Bản tin thuế, bảo hiểm xã hội điện tử tháng 08/2016  
14:42 | 12/08/2016

A.   THUẾ ĐIỆN TỬ

I.   Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai tháng 08/2016

Bkav xin thông báo, do ngày cuối của kỳ lập bộ tháng 8/2016 trùng với ngày nghỉ (ngày thứ Bẩy) nên theo Quy định tại khoản 4 điều 8 thông tư số 156/2013/TT-BTC "Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn giải quyết thủ tục hành chính trùng với ngày nghỉ theo quy định thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày làm việc tiếp theo của ngày nghỉ đó".

Như vậy, kỳ lập bộ Tháng 08/2016 sẽ hết hạn vào ngày 22/08/2016 đối với tờ khai Tháng 07/2016. Bkav xin trân trọng thông báo để Quý khách hàng được biết và thực hiện kê khai, nộp tờ khai đúng hạn.

Bkav lưu ý Quý khách hàng nên kê khai, nộp tờ khai trước thời hạn hết hạn để tránh việc quá tải, không gửi được tờ khai.

Trong quá trình kê khai, nếu gặp vấn đề cần hỗ trợ, Quý khách hàng hãy liên hệ với Trung tâm Chăm sóc khách hàng Bkav CA qua email BkavCA@bkav.com hoặc số điện thoại 1900 18 54, để được hỗ trợ kịp thời.

Ngoài ra, Quý khách hàng có thể tham khảo Hướng dẫn và trao đổi các vấn đề thường gặp khi kê khai, nộp tờ khai tại Fanpage Bkav CA theo địa chỉ https://www.facebook.com/BkavCA

II.   Cách tính tiền chậm nộp thuế theo quy định của Luật 106

Từ ngày 01/07/2016 khi luật sửa đổi số 106/2016/QH13 có hiệu lực. Cùng với một số nội dung thay đổi về chính sách thuế và quản lý thuế thì mức phạt chậm nộp thuế cũng được tính theo tỷ lệ mới.

Tại Khoản 3 Điều 3 Luật số 106/2016/QH13 quy định: Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.

Đối với các khoản nợ tiền thuế phát sinh trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà người nộp thuế chưa nộp vào ngân sách nhà nước, kể cả khoản tiền nợ thuế được truy thu qua kết quả thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền thì được chuyển sang áp dụng mức tính tiền chậm nộp theo quy định tại Khoản này từ ngày 01 thảng 7 năm 2016.

Mới đây, ngày 25/07/2016 Bộ Tài chính có văn bản số 10135/BTC-TCT V/v thực hiện Luật số 106/2016/QH13, có hướng dẫn rõ hơn các trường hợp tính tiền chậm nộp thuế sau ngày 01/07/2016. Theo đó, đối với khoản nợ tiền thuế phát sinh trước ngày 01/07/2016 nhưng sau ngày 01/07/2016 vẫn chưa nộp thì từ ngày 01/07/2016 chuyển sang áp dụng mức tính tiền chậm nộp 0,03%/ngày.

Ví dụ: Công ty TNHH A có số thuế GTGT phát sinh của quý I/2016 là 150 triệu đồng, thời hạn cuối cùng phải nộp là 30/04/2016, nhưng đến ngày 30/07/2016 Công ty mới thực hiện nộp khoản thuế này. Như vậy, Công ty sẽ phải nộp tiền chậm nộp và phải tính theo tính theo hai mức: Từ ngày 01/05/2016 đến hết ngày 30/06/2016 áp dụng mức tính chậm nộp là 0,05%/ngày. Từ ngày 01/07/2016 đến ngày 29/07/2016 áp dụng mức tính tiền chậm nộp 0,03%/ngày.

Trường hợp người nộp thuế khai thiếu tiền thuế của kỳ thuế phát sinh trước ngày 01/07/2016 nhưng sau ngày 01/07/2016, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra hoặc người nộp thuế tự phát hiện thì áp dụng tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày (hoặc mức phù hợp quy định của văn bản pháp luật từng thời kỳ) từ ngày phải nộp theo quy định của pháp luật đến hết ngày 30/06/2016 và theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế khai thiếu từ ngày 01/07/2016 đến ngày người nộp thuế nộp vào ngân sách nhà nước.

Ví dụ: Công ty cổ phần X đã khai tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2015 và đến hết ngày 31/03/2016 đã nộp hết số thuế phát sinh phải nộp trên tờ khai. Tuy nhiên, đến ngày 25/07/2016 Công ty phát hiện khai sai và phải làm tờ khai bổ sung, số thuế TNDN phải nộp thêm là 250 triệu đồng. Số tiền thuế phải nộp bổ sung (250 triệu đồng) cũng sẽ áp dụng mức tính tiền chậm nộp theo hai mức: Từ ngày 01/04/2016 đến ngày 30/06/2016 áp dụng mức tính chậm nộp là 0,05%/ngày. Từ ngày 01/07/2016 đến ngày 25/07/2016 áp dụng mức tính tiền chậm nộp 0,03%/ngày.

Như vậy, so với các quy định trước đây thì lần điều chỉnh này có mức tính tiền chậm nộp thấp nhất. Với tỷ lệ ở mức 0,03%/ngày, tức khoảng 0,9%/ tháng, tương ứng với lãi suất ngân hàng tại thời điểm hiện tại. Thông qua việc giảm tỷ lệ tính tiền chậm nộp thuế, Người nộp thuế sẽ là người được hưởng lợi nhất.Tuy nhiên, không phải vì thế mà người nộp thuế lơi là việc nộp thuế mà quy định này góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho NNT thực hiện tốt nghĩa vụ của mình. 
 (Nguồn: Gdt.gov.vn - Mục Tin tức - Tin bài về Thuế - Đăng ngày: 29/07/2016)

III.   Một số điểm mới về quản lý hoàn thuế Giá trị gia tăng

Ngày 29/06/2016, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 99/2016/TT-BTC hướng dẫn về quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng. Theo đó,Thông tư số 99/2016/TT-BTC hướng dẫn về việc quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng, hoàn thuế cho hàng hóa của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang theo khi xuất cảnh thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 72/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính. Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể việc hoàn trả số tiền thuế giá trị gia tăng nộp nhầm, nộp thừa thực hiện theo quy định tại Điều 47 Luật quản lý thuế.

Thông tư số 99/2016/TT-BTC gồm 5 chương và 32 điều, quy định chi tiết nguyên tắc quản lý hoàn thuế GTGT, quản lý kinh phí hoàn thuế GTGT, đồng thời, cũng quy định rất rõ việc áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý hoàn thuế GTGT; quản lý kinh phí hoàn thuế GTGT. Đặc biệt, Thông tư quy định rất chi tiết quy trình giải quyết hoàn thuế GTGT từ khâu lập, gửi hồ sơ, tiếp nhận, phân loại hồ sơ; xác định số thuế được hoàn cũng như quy định về việc bù trừ số thuế được hoàn với số thuế còn nợ; công khai thông tin giải quyết hoàn thuế… Quy định này giúp cho Người nộp thuế nắm rõ được trình tự các việc phải thực hiện khi làm hồ sơ hoàn thuế và qua đó cũng giám sát được việc giải quyết của cơ quan thuế, công chức thuế.

Ngoài phần quy định về việc quản lý, giải quyết, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong quan lý hoàn thuế GTGT, Thông tư còn có một số quy định mới liên quan đến Người nộp thuế, các quy định mới này đều theo hướng rất rõ ràng, minh bạch và tạo thuận lợi cho người nộp thuế, đó là:
  • Về tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế: Ngoài hình thức truyền thống là nộp hồ sơ trực tiếp và gửi qua bưu chính thì Thông tư có quy định mới về việc tiếp nhận hồ sơ điện tử. Theo đó NNT có thể gửi hồ sơ cho cơ quan thuế trên cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế. Đối với các hồ sơ gửi điện tử thì quyết định hoàn thuế cũng được cơ quan thuế gửi cho Người nộp thuế theo đường điện tử.
  • Về việc giải trình bổ sung thông tin: Thông tư có quy định rõ trường hợp thông tin liên quan đến xác định số thuế giá trị gia tăng được hoàn thuộc trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước đã có quy chế trao đổi thông tin và phối hợp công tác với cơ quan thuế thì cơ quan thuế không được yêu cầu người nộp thuế giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu.
  • Về công khai thông tin giải quyết hoàn thuế: Thông tư quy định cơ quan thuế công khai trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế về từng thời điểm liên quan đến quá trình giải quyết hồ sơ hoàn thuế từ khâu tiếp nhận hồ sơ đến việc giải trình, bổ sung và ban hành thông báo, quyết định giải quyết hoàn thuế; đồng thời quy định người nộp thuế thực hiện hoàn thuế điện tử được tra cứu thông tin về việc giải quyết hoàn thuế của cơ quan thuế.
Thông tư số 99/2016/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 13 tháng 8 năm 2016; các hồ sơ đề nghị hoàn thuế thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư 99/2016/TT-BTC đã nộp cơ quan thuế trước thời điểm Thông tư 99/2016/TT-BTC có hiệu lực thi hành, đáp ứng điều kiện, trường hợp hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng và Luật Quản lý thuế và cơ quan thuế đang giải quyết hoàn thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, chưa ban hành quyết định hoàn thuế thì áp dụng quy định về giải quyết hoàn thuế trước thời điểm Thông tư 99/2016/TT-BTCcó hiệu lực thi hành.
(Nguồn: Gdt.gov.vn - Mục Tin tức - Tin bài về Thuế - Đăng ngày: 29/07/2016)

IV.   Được sử dụng thông báo của cơ quan thuế để thay thế bảng kê nộp thuế

Nhằm giảm bớt công việc kê khai, lập bảng kê nộp thuế, Thông tư 84 quy định NNT được sử dụng thông báo, quyết định của cơ quan thuế để thay thế bảng kê nộp thuế.

Tổng cục Thuế vừa ban hành công văn số 3276/TCT-KK giới thiệu nội dung mới của Thông tư số 84/2016/TT-BTC (84). Trong đó, có rất nhiều điểm mới nhằm chuẩn hóa các quy trình quản lý thu, nộp thuế điện tử. TBTCVN trích đăng một số nội dung, chủ yếu liên quan đến NNT.

Công văn cho biết, ngày 17/06/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 84 hướng dẫn hướng dẫn thủ tục thu nộp NSNN đối với các khoản thuế và thu nội địa. Đây là điển hình cho việc một thông tư sửa nhiều thông tư, nhằm mục tiêu, cải cách, hiện đại hóa quy trình quản lý, thu nộp thuế, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Tổng cục Thuế yêu cầu các cục thuế phổ biến, thông báo cho cán bộ thuế và tuyên truyền tới người nộp thuế (NNT) trên địa bàn quản lý các nội dung mới của Thông tư số 84; kế hoạch triển khai ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu mới của Thông tư 84.

Quy định nguyên tắc trao đổi thông tin liên quan

Sửa đổi, bổ sung quy định về “ngày nộp thuế”. Mặc dù quy định về ngày nộp thuế đã có tại nhiều văn bản pháp quy, nhưng hiện nay vẫn xảy ra một số trường hợp ngày nộp thuế theo chứng từ của NNT sai khác với ngày nộp thuế được trao đổi trên hệ thống truyền nhận giữa ngân hàng với cơ quan KBNN, dẫn tới việc hạch toán tiền thuế và tính tiền chậm nộp của NNT bị sai lệch.

Nhằm hướng dẫn ngân hàng, cơ quan KBNN xác định, ghi nhận đúng ngày nộp thuế trong quá trình luân chuyển thông tin thu nộp NSNN, Thông tư 84 đã quy định ngày nộp thuế được xác định theo từng trường hợp: Nộp thuế qua giao dịch điện tử; nộp thuế bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản; nộp thuế qua tổ chức ủy nhiệm thu. Đồng thời có quy định cụ thể cách ghi nhận ngày nộp thuế đối với trường hợp nộp thuế thay.

Trước đây, Thông tư 85/2011/TT-BTC (85), Thông tư 156/2013/TT-BTC (156) chưa quy định việc xác định “ngày nộp thuế” đối với trường hợp nộp thuế qua tổ chức ủy nhiệm thu, trường hợp người khác nộp thuế thay cho NNT.
Thông tư số 85, Thông tư số 32/2014/TT-BTC (32) chưa có các quy định về nguyên tắc trao đổi thông tin giữa các cơ quan liên quan. Việc truyền, nhận thông tin thu nộp NSNN chưa được điện tử hoá hoàn toàn, vẫn còn tình trạng xử lý thủ công làm giảm tính kịp thời trong việc truyền nhận, hoàn thiện thông tin thu nộp NSNN.

Thông tư 84 quy định nguyên tắc trao đổi thông tin thu nộp NSNN giữa các bên liên quan (cơ quan thuế, KBNN, ngân hàng) được thực hiện bằng phương thức điện tử để đảm bảo thông tin được truyền nhận kịp thời, đầy đủ và chính xác.

Cụ thể: Cơ quan thuế, cơ quan KBNN, ngân hàng phối hợp thu, ngân hàng uỷ nhiệm thu sử dụng phương thức giao dịch điện tử trong việc trao đổi danh mục dùng chung, dữ liệu về NNT, dữ liệu về khoản thuế, số thuế đã thu nộp NSNN.

Trường hợp có sự cố kỹ thuật không áp dụng được phương thức giao dịch điện tử, các bên tạm thời trao đổi thông tin liên quan đến thu nộp NSNN bằng phương thức phù hợp khác.

Thông tin thu nộp NSNN ở dạng thông điệp điện tử được ký xác nhận bằng chữ ký điện tử.

Về thủ tục thu nộp thuế

Trước đây, Thông tư số 85 chưa quy định các thông tin bắt buộc trên chứng từ nộp tiền. Thông tư 84 hướng dẫn thực hiện nộp thuế điện tử qua dịch vụ nộp thuế điện tử do ngân hàng cung cấp.

Cụ thể: Lập chứng từ nộp thuế theo hình thức nộp thuế điện tử qua dịch vụ thanh toán điện tử do ngân hàng cung cấp (như ATM, internet banking, mobile banking, POS hoặc hình thức thanh toán điện tử khác) theo hướng dẫn tại quy trình sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử của từng hệ thống ngân hàng.

Thông tư mới cũng bổ sung quy định dịch vụ nộp thuế điện tử do ngân hàng cung cấp phải đảm bảo các thông tin từ khoản 1 đến khoản 8, Điều 6 Thông tư số 84/2016/TT-BTC.

Nhằm giảm bớt công việc kê khai, lập bảng kê nộp thuế, Thông tư 84 quy định NNT được sử dụng thông báo, quyết định của cơ quan thuế để thay thế bảng kê nộp thuế.

Thông tư hướng dẫn chi tiết quy trình thu nộp tại quầy giao dịch của ngân hàng ủy nhiệm thu, ngân hàng phối hợp thu, cơ quan KBNN từ khâu kiểm soát thông tin, điều chỉnh sai sót thông tin đến khâu trích tiền từ tài khoản hoặc thu tiền mặt, hoàn tất chứng từ nộp thuế và cấp cho người nộp thuế 1 liên giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước (mẫu ban hành kèm theo Thông tư 84).

Giấy nộp tiền vào NSNN cấp cho NNT phải có đầy đủ thông tin đã kê khai trên bảng kê nộp thuế hoặc thông tin trên quyết định/thông báo của cơ quan thuế; thông tin ngày nộp thuế; chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt chứng từ nộp thuế.

Trước đây, việc này thực hiện (theo công văn 16339/BTC-TCT ngày 10/11/2014 hướng dẫn thu NSNN theo Thông tư 119/2014/TT-BTC và Thông tư 126/2014/TT-BTC) tách riêng quy trình thu nộp theo ngân hàng phối hợp thu, ngân hàng ủy nhiệm thu, cơ quan KBNN.

Đồng thời, chưa có quy định và hướng dẫn trường hợp NNT dùng thông báo, quyết định của cơ quan thuế để thay cho việc lập bảng kê nộp thuế.

Kế hoạch nâng cấp ứng dụng công nghệ thông tin liên quan

Hiện nay, Tổng cục Thuế đang phối hợp với KBNN và các ngân hàng thương mại triển khai nâng cấp các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác thu nộp NSNN, trao đổi thông tin theo hình thức giao dịch điện tử. Dự kiến trong quý 1 năm 2017 sẽ đồng bộ nâng cấp, triển khai các ứng dụng sau:

  • Dịch vụ nộp thuế điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế đáp ứng các mẫu biểu, quy trình mới.
  • Cung cấp dịch vụ thông báo/ tra cứu số thuế đã nộp thông qua tài khoản giao dịch thuế điện tử tại Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế.
  • Thực hiện thủ tục tra soát điện tử giữa cơ quan thuế với cơ quan KBNN, NNT; thủ tục điều chỉnh thông tin thu nộp NSNN với cơ quan kho bạc nhà nước bằng phương thức điện tử.
  • Thực hiện thủ tục người nộp thuế đề nghị và cơ quan thuế xác nhận số đã nộp NSNN theo phương thức giao dịch điện tử.
  • Nâng cấp chương trình thu NSNN tại KBNN, hệ thống ngân hàng phối hợp thu, hệ thống ngân hàng uỷ nhiệm thu.
  • Nâng cấp hệ thống thanh toán liên ngân hàng (CITAD) đáp ứng truyền nhận đủ thông tin thu nộp NSNN.Nâng cấp hệ thống trao đổi thông tin phục vụ công tác quản lý thu nộp NSNN giữa các cơ quan thuộc Bộ Tài chính (Cục Tin học Thống kê, KBNN, Tổng cục Thuế).
 (Nguồn: Thoibaotaichinh.vn. Xem chi tiết tại đây)

V.   Ưu đãi mới về thuế thu nhập doanh nghiệp

Thông tư 83/2016/TT-BTC hướng dẫn ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế nhập khẩu, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp sẽ có hiệu lực từ ngày 01/08/2016.

Theo đó, dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi về thuế TNDN, cụ thể:
  • Đầu tư mới sản xuất ô tô dưới 24 chỗ, gồm ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có từ 2 hàng ghế trở lên, có vách ngăn cố định giữa khoang chở người và chở hàng được ưu đãi thuế TNDN.
  • Dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp, khu chế xuất được hưởng mức ưu đãi thuế theo mức áp dụng cho dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp, khu chế xuất theo quy định pháp luật thuế TNDN…
  • Nếu dự án đầu tư đồng thời đáp ứng nhiều điều kiện ưu đãi thuế TNDN thì được chọn hưởng mức ưu đãi thuế TNDN có lợi nhất.
Ngoài ra, Thông tư 83/2016/TT-BTC còn hướng dẫn cụ thể các trường hợp được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

Riêng dự án đầu tư được cấp giấy phép, giấy chứng nhận đầu tư hoặc các giấy tờ có giá trị khác trước ngày 01/07/2015 và dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng thực hiện trước ngày 01/07/2015 thì thực hiện chính sách ưu đãi về thuế theo văn bản pháp luật có hiệu lực trước ngày 01/07/2015.
(Nguồn: Kinhtedothi.vn. Xem chi tiết tại đây)

B.   BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐIỆN TỬ        

 I.   Từ ngày 15/09, điều chỉnh chế độ tiền lương đối với CBCCVC và LLVT

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 117/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) và lực lượng vũ trang (LLVT).

Theo đó, Nghị định bổ sung vào ghi chú của đối tượng áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (Bảng 3) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP.


Cụ thể, đối với viên chức đang xếp lương ở chức danh giảng viên cao cấp được bổ nhiệm chức danh giáo sư thì được thực hiện xếp lương như sau: Trường hợp chưa xếp bậc cuối cùng của chức danh giảng viên cao cấp thì được xếp lên 1 bậc trên liền kề từ ngày được bổ nhiệm chức danh giáo sư, thời gian xét nâng bậc lương lần sau kể từ ngày giữ bậc lương cũ; trường hợp đã xếp bậc cuối cùng của chức danh giảng viên cao cấp thì được cộng thêm 3 năm (36 tháng) để tính hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung kể từ ngày ký quyết định bổ nhiệm chức danh giáo sư.

Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung khoản 4 Mục I Bảng phụ cấp chức vụ lãnh đạo (bầu cử, bổ nhiệm) trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP. Cụ thể:

Theo đó, hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo của Cục thuộc Bộ là: Cục trưởng: 1,0; Phó Cục trưởng: 0,8; Trưởng phòng (ban) và tổ chức tương đương: 0,6; Phó trưởng phòng (ban) và tổ chức tương đương: 0,4.

Hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo đối với tổ chức sự nghiệp thuộc Cục thuộc Bộ: Giám đốc: 0,6; Phó Giám đốc: 0,4; Trưởng phòng: 0,3; Phó trưởng phòng: 0,2.

Trường hợp đang hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo có chênh lệnh cao hơn giữa hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo đã được hưởng so với hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo quy định nêu trên thì được bảo lưu phụ cấp chức vụ lãnh đạo đã được hưởng cho đến hết thời gian giữ chức vụ đã được bổ nhiệm. Trường hợp đã giữ chức vụ theo thời hạn được bổ nhiệm còn dưới 6 tháng thì được hưởng bảo lưu phụ cấp chức vụ đã được hưởng đủ 6 tháng.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 15/09/2016./.

(Nguồn: Baohiemxahoi.gov.vnXem chi tiết tại đây)

II.   Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 08/2016

Tăng 8% lương hưu, trợ cấp hàng tháng cho cán bộ, công chức; Tăng trợ cấp với thanh niên xung phong lên 540.000 đồng/tháng; Khai sai thuế nhưng tự phát hiện vẫn bị xử phạt; Hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Tăng mức xử phạt vi phạm luật Giao thông đường bộ là những chính sách có hiệu lực từ tháng 08/2016.

Tăng 8% lương hưu, trợ cấp hàng tháng cho cán bộ, công chức

Theo Nghị định số 55/2016/NĐ-CP của Chính phủ, mức lương hưu, trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ, công chức, công nhân, viên chức, người lao động, quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu có thời gian bắt đầu hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng từ ngày 01/01/2015 đến trước ngày 01/05/2016 sẽ được điều chỉnh tăng thêm 8%; thời điểm điều chỉnh tính từ tháng bắt đầu hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng.

Trường hợp mức lương hưu sau điều chỉnh thấp hơn 2 triệu đồng/tháng, thì mức hưởng lương hưu được tăng thêm 250.000 đồng/người/tháng với người có lương hưu từ 1,75 triệu đồng/tháng trở xuống; tăng lên bằng 2 triệu đồng/người/tháng với người có mức lương hưu từ trên 1,75 triệu đồng/người/tháng đến dưới 2 triệu đồng/người/tháng…

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/08/2016.

Hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Tại Thông tư liên tịch có hiệu lực từ 01/08/2016, Liên Bộ Lao động Thương binh & Xã hội và Bộ Tài chính đã quy định một số mức hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Nghị định 61/2015.

Cụ thể như sau: hỗ trợ chi phí đào tạo ngoại ngữ tùy từng khóa học và thời gian học thực tế nhưng tối đa là 3 triệu đồng/người/khóa học; hỗ trợ tối đa 750.000 đồng/người chi phí khám sức khỏe theo giá dịch vụ khám, chữa bệnh thực tế của cơ sở y tế được cấp phép khám sức khỏe cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài; hỗ trợ giải quyết theo mức quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 3 của Quyết định 144/2007 trong trường hợp người lao động gặp phải các rủi ro khi làm việc ở nước ngoài.

Bên cạnh đó, theo Thông tư liên tịch tháng 09/2016 giữa Bộ Lao động Thương binh & Xã hội và Bộ Tài chính, người lao động còn nhận được nhiều hỗ trợ khác như: chi phí đi lại, tiền ăn, chi phí làm thủ tục để đi làm việc ở nước ngoài.

Khai sai thuế nhưng tự phát hiện vẫn bị xử phạt

Đây là nội dung mới được nêu tại Nghị định số 45 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 01/08/2016.

Theo đó, người nộp thuế không khai hoặc khai sai về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, mã số hàng hóa, thuế suất, mức thuế, xuất xứ hàng hóa trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nhưng đã tự phát hiện và khai bổ sung hồ sơ khai thuế trước thời điểm thông quan hàng hóa vẫn sẽ bị phạt 10% số tiền thuế khai thiếu.

Bên cạnh đó, Nghị định này cũng quy định phạt từ 1 - 3 triệu đồng đối với người xuất cảnh không khai hoặc khai sai số ngoại tệ, đồng Việt Nam bằng tiền mặt, vàng mang theo vượt mức quy định khi xuất cảnh tương đương từ 5 - 30 triệu đồng; trong khi trước đây, chỉ khi mang theo tiền, vàng vượt mức quy định từ 10 - 30 triệu đồng mới bị áp dụng mức phạt này.

Tăng trợ cấp với thanh niên xung phong lên 540.000 đồng/tháng.

Nếu như trước đây, thanh niên xung phong chỉ được hưởng trợ cấp với mức 360.000 đồng/tháng thì từ 01/01/2016, mức trợ cấp đối với đối tượng này sẽ được tăng lên 540.000 đồng/tháng.

Đây là nội dung tại Quyết định số 29/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 20/08/2016.

Cũng theo Quyết định này, thanh niên xung phong từ trần kể từ ngày 01/01/2016 nhưng chưa được điều chỉnh trợ cấp như trên thì người tổ chức mai táng sẽ được truy lĩnh khoản tiền chênh lệch do điều chỉnh trợ cấp kể từ ngày 01/01/2016 đến tháng thanh niên xung phong từ trần (số tiền chênh lệch mỗi tháng là 180.000 đồng).

Tăng mức xử phạt vi phạm luật Giao thông đường bộ

Từ 01/8/2016, Nghị định 46 chính thức có hiệu lực, hơn 100 hành vi vi phạm giao thông bị tăng mức xử phạt.

Nghị định 46 điều chỉnh mức phạt tiền đối với 152 hành vi, nhóm hành vi trong lĩnh vực đường bộ gồm nhóm vi phạm về nồng độ cồn; vi phạm tốc độ, vi phạm trên đường cao tốc, quy tắc giao thông, chở hàng quá tải trọng cho phép của phương tiện, nhóm hành vi chở hàng quá tải trọng cho phép của cầu, đường; các hành vi vi phạm liên quan đến kinh doanh vận tải đường bộ và kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

Cũng theo Nghị định mới, với hành vi đi xe máy vào đường cao tốc, mức xử phạt được tăng cao. Theo đó, người điều khiển môtô, xe máy đi vào đường cao tốc sẽ bị phạt tiền 500.000 - 1 triệu đồng và bổ sung việc tước GPLX từ 1 - 2 tháng, thay vì mức 200.000 - 400.000 đồng trước đây.

Nghị định 46 cũng bổ sung quy định, nếu dùng chân để điều khiển vô lăng xe ôtô khi xe đang chạy trên đường bị phạt từ 7 - 8 triệu đồng. Mức phạt này cũng áp dụng đối với hành vi điều khiển xe lạng lách, đánh võng.

Trường hợp vi phạm quy định này mà không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc gây tai nạn giao thông sẽ bị phạt tiền từ 18 - 20 triệu đồng.

Bên cạnh đó, tăng mức phạt đối với người điều khiển xe ôtô trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy. Cụ thể, tước quyền sử dụng GPLX từ 22 - 24 tháng (trong trường hợp có GPLX) hoặc phạt tiền từ 16 - 18 triệu đồng (trong trường hợp không có GPLX hoặc có nhưng đang bị tước quyền sử dụng GPLX) đối với người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy (theo Nghị định số 171 thì hành vi vi phạm này chỉ bị phạt từ 8 - 10 triệu đồng).

Nghị định cũng tăng mức phạt đối với lái xe và chủ phương tiện vận chuyển hàng hóa vi phạm quy định về vận tải đường bộ. Đối với lái xe, mức phạt cao nhất khi chở quá tải trên 150% sẽ phạt tiền từ 8 - 12 triệu đồng. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện còn bị tước quyền sử dụng GPLX 3 - 5 tháng, bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, buộc phải hạ phần hàng quá tải, dỡ phần hàng vượt quá kích thước quy định…

Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1,2 triệu đồng đối với người điều khiển ôtô thực hiện hành vi vi phạm: Xe không được quyền ưu tiên lắp đặt, sử dụng thiết bị phát tín hiệu của xe được quyền ưu tiên (quy định hiện hành chỉ phạt đến 800.000 đồng), tịch thu giấy phép lái xe từ một đến ba tháng (quy định hiện hành: một tháng).

Tăng mức phạt tiền lên 2 triệu đến 3 triệu đồng đối với người điều khiển ôtô không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ (quy định cũ từ 800.000 đến 1,2 triệu đồng).

Tăng mức phạt tối thiểu từ 4 triệu lên 5 triệu đồng (phạt từ 5 triệu đến 6 triệu đồng) đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h đến 35 km/h; gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.
 (Nguồn: Baohiemxahoi.gov.vnXem chi tiết tại đây)

Bkav