Bản tin thuế, bảo hiểm xã hội điện tử tháng 10/2016  
09:41 | 31/10/2016

A.   THUẾ ĐIỆN TỬ

I.   Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai tháng 10/2016 và Quý III/2016 

Bkav xin thông báo, do ngày cuối của kỳ lập bộ Quý III/2016 trùng với ngày nghỉ (ngày Chủ nhật) nên theo Quy định tại khoản 4 điều 8 thông tư số 156/2013/TT-BTC "Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn giải quyết thủ tục hành chính trùng với ngày nghỉ theo quy định thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày làm việc tiếp theo của ngày nghỉ đó". Như vậy, thời hạn nộp tờ khai thuế như sau:
  • Đối với tờ khai Tháng 10/2016: Ngày hết hạn nộp vào thứ Năm ngày 20/10/2016.
  • Đối với tờ khai Quý III/2016: Ngày hết hạn nộp vào thứ Hai ngày 31/10/2016.
Bkav lưu ý Quý khách hàng nên kê khai, nộp tờ khai trước thời gian hết hạn để tránh việc quá tải, không gửi được tờ khai.
Trong quá trình kê khai, nếu gặp vấn đề cần hỗ trợ, Quý Khách hàng vui lòng xem Hướng dẫn xử lý vấn đề thường gặp tại địa chỉ http://hd.noptokhai.vn. Quý Khách hàng cũng có thể liên hệ với Trung tâm Chăm sóc khách hàng Bkav CA qua email BkavCA@bkav.com hoặc số điện thoại 1900 18 54, để được hỗ trợ kịp thời.
Ngoài ra, để tham khảo Hướng dẫn và trao đổi các vấn đề thường gặp trong quá trình sử dụng, Quý Khách hàng truy cập Fanpage Bkav CA tại địa chỉ https://www.facebook.com/BkavCA

II.   Tổng cục Thuế thông báo V/v nâng cấp ứng dụng HTKK 3.4.0, iHTKK 3.3.0, iTaxviewer 1.2.0 

Tổng cục Thuế thông báo đã hoàn thành việc nâng cấp ứng dụng hỗ trợ kê khai thuế (HTKK) phiên bản 3.4.0, ứng dụng Kê khai thuế qua mạng (iHTKK) phiên bản 3.3.0, ứng dụng Hỗ trợ đọc, xác minh tờ khai, thông báo thuế định dạng XML (iTaxViewer) phiên bản 1.2.0, đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ; Đáp ứng Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh, hướng dẫn thực hiện một số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế thu nhập cá nhân; Bổ sung một số yêu cầu hỗ trợ người nộp thuế (NNT) kê khai các tờ khai thuế GTGT, báo cáo hóa đơn ban hành kèm theo Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính và một số nội dung khác.
Nội dung nghiệp vụ chính thực hiện nâng cấp bao gồm:
  • 18 mẫu tờ khai TNCN và các phụ lục quy định tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC hướng dẫn thực hiện thuế GTGT và TNCN đối với cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất kinh doanh.
  • 7 mẫu gồm tờ khai thuế GTGT và báo cáo hóa đơn quy định tại Thông tư số 26/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế GTGT và quản lý thuế.
  • Một số nội dung khác: Bổ sung phụ lục 02/PL-XSĐT kèm theo tờ khai quyết toán 03/TNDN dùng cho doanh nghiệp Xổ sơ điện toán; Sửa công thức tính thuế trên tờ khai mẫu 01/BVMT và tờ khai quyết toán mẫu 02/BVMT; Sửa bỏ ràng buộc khi nhập thông tin cấp mã số thuế cho người phụ thuộc (NPT) đối với trẻ em dưới 14 tuổi phải nhập giấy khai sinh mà trên giấy khai sinh không có thông tin “quyển số” và cho nhập số định danh cá nhân đối với trẻ em (nếu có).
Bắt đầu từ ngày 25/09/2016, khi kê khai thuế có liên quan đến nội dung nâng cấp nêu trên, người nộp thuế sử dụng các mẫu biểu kê khai tại ứng dụng HTKK 3.4.0, iHTKK 3.3.0 thay cho các phiên bản trước đây.
Tổ chức, cá nhân nộp thuế có thể tải bộ cài và tài liệu hướng dẫn sử dụng ứng dụng tại địa chỉ sau:
Hoặc liên hệ trực tiếp với cơ quan thuế địa phương để được cung cấp và hỗ trợ trong quá trình cài đặt, sử dụng.
Mọi phản ánh, góp ý của tổ chức, cá nhân nộp thuế được gửi đến Cục Thuế theo các số điện thoại, hộp thư điện tử hỗ trợ NNT về ứng dụng HTKK, iHTKK để được Cơ quan Thuế cung cấp.
(Nguồn: Nhantokhai.gdt.gov.vn. Xem chi tiết tại đây)

III.   Mức thu lệ phí môn bài

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số139/2016/NĐ-CP quy định người nộp lệ phí môn bài; miễn lệ phí môn bài; mức thu và khai, nộp lệ phí môn bài. Cụ thể về mức thu lệ phí môn bài:
  • Đối với tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, Nghị định quy định mức thu đối với tổ chức có vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư trên 10 tỷ đồng là 3 triệu đồng/năm;
  • Đối với tổ chức có vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư từ 10 tỷ trở xuống là 2 triệu đồng/năm;
  • Đối với chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế khác là 1 triệu đồng/năm.
Mức thu lệ phí môn bài đối với tổ chức quy định trên căn cứ vào vốn điều lệ ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; trường hợp không có vốn điều lệ thì căn cứ vào vốn đầu tư ghi trong giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Nghị định quy định rõ, khi các tổ chức này có thay đổi vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư thì căn cứ để xác định mức thu lệ phí môn bài là vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư của năm trước liền kề năm tính lệ phí môn bài. Trường hợp vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư được ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký đầu tư bằng ngoại tệ thì quy đổi ra tiền đồng Việt Nam để làm căn cứ xác định mức lệ phí môn bài theo tỷ giá mua vào của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng nơi người nộp lệ phí môn bài mở tài khoản tại thời điểm người nộp phí môn bài nộp tiền vào ngân sách nhà nước.
  • Về mức thu lệ phí môn bài đối với cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, Nghị định quy định, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm thì mức thu là 1.000.000 đồng/năm;
  • Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 300 đến 500 triệu đồng/năm mức thu là 500.000 đồng/năm;
  • Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 100 đến 300 triệu đồng/năm mức thu là 300.000 đồng/năm.
Các cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình này có thay đổi doanh thu thì căn cứ để xác định mức thu lệ phí môn bài là doanh thu của năm trước liền kề năm tính lệ phí môn bài.
Nghị định quy định tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh hoặc mới thành lập, được cấp đăng ký thuế và mã số thuế, mã số doanh nghiệp trong thời gian của 6 tháng đầu năm thì nộp mức lệ phí môn bài cả năm; nếu thành lập, được cấp đăng ký thuế và mã số thuế, mã số doanh nghiệp trong thời gian 6 tháng cuối năm thì nộp 50% mức lệ phí môn bài cả năm.
Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh nhưng không kê khai lệ phí môn bài thì phải nộp mức lệ phí môn bài cả năm, không phân biệt thời điểm phát hiện là của 6 tháng đầu năm hay 6 tháng cuối năm.
Nghị định cũng quy định 7 trường hợp được miễn lệ phí môn bài, gồm:
  • Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh có doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống.
  • Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh không thường xuyên; không có địa điểm cố định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
  • Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất muối.
  • Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.
  • Điểm bưu điện văn hóa xã; cơ quan báo chí (báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử).
  • Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã hoạt động dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp.
  • Quỹ tín dụng nhân dân xã; hợp tác xã chuyên kinh doanh dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp; chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã và của doanh nghiệp tư nhân kinh doanh tại địa bàn miền núi. Địa bàn miền núi được xác định theo quy định của Ủy ban dân tộc.
Lệ phí môn bài thu được phải nộp 100% vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Quy định trên có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.
(Nguồn: Gdt.gov.vn - Mục Tin tức - Tin bài về Thuế - Đăng ngày: 07/10/2016)

IV.   Quy định mới về thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt

Thông tư 130/2016/TT-BTC hướng dẫn Nghị định số 100/2016/NĐ-CP do Bộ Tài chính ban hành quy định chi tiết Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Giá trị gia tăng (GTGT), Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) và Luật Quản lý thuế.
Được khấu trừ thuế GTGT tiếp sang kỳ sau
  • Liên quan đến thuế GTGT, theo hướng dẫn của Thông tư 130/2016/TT-BTC (Thông tư 130), cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trong quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo.
  • Trường hợp cơ sở kinh doanh có số thuế GTGT chưa được khấu trừ hết phát sinh trước kỳ tính thuế tháng 7/2016 (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trước kỳ tính thuế quý 3/2016 (đối với trường hợp kê khai theo quý), đủ điều kiện hoàn thuế GTGT (theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 18 Thông tư số 219/2013/TT-BTC), cơ quan thuế giải quyết hoàn thuế theo quy định của pháp luật.
  • Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 1 năm trở lên thì được hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm (trừ trường hợp hướng dẫn tại điểm c, Khoản 3, Điều 1 thông tư này).
  • Trường hợp, nếu số thuế GTGT lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.
  • Thông tư 130 quy định, cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư (trừ cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT theo hướng dẫn tại điểm c Khoản 3 Điều 1 và trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê mà không hình thành tài sản cố định) đang trong giai đoạn đầu tư cùng tỉnh/thành phố, thì cơ sở kinh doanh thực hiện kê khai riêng đối với dự án đầu tư và phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện.
  • Số thuế GTGT được kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh.
  • Sau khi bù trừ, nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư.
  • Còn sau khi bù trừ, nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư mà chưa được khấu trừ hết nhỏ hơn 300 triệu đồng thì kết chuyển vào số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư của kỳ kê khai tiếp theo.
Ấn định giá tính thuế TTĐB nếu giá bán quá thấp
Cũng theo Thông tư 130, giá tính thuế TTĐB của hàng hóa, dịch vụ là giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ của cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa có thuế TTĐB, thuế bảo vệ môi trường (nếu có) và thuế GTGT. Cụ thể:
  • Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, hàng hóa nhập khẩu là giá do cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu bán ra. Trường hợp giá bán của cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu bán ra không theo giá giao dịch thông thường trên thị trường thì cơ quan thuế thực hiện ấn định thuế theo quy định của Luật quản lý thuế.
  • Trường hợp nhà sản xuất, nhà nhập khẩu thành lập nhiều cơ sở thương mại trung gian có quan hệ công ty mẹ, công ty con hoặc các công ty con trong cùng công ty mẹ hoặc có mối quan hệ liên kết thì giá bán làm căn cứ xác định giá tính thuế TTĐB không được thấp hơn tỷ lệ 7% so với giá bình quân trong tháng của các cơ sở thương mại này bán cho cơ sở kinh doanh thương mại không có quan hệ (mẹ - con... hoặc có mối quan hệ liên kết).
  • Riêng mặt hàng xe ôtô, giá bán bình quân của cơ sở kinh doanh thương mại để so sánh là giá bán xe chưa bao gồm các lựa chọn về trang thiết bị, phụ tùng mà cơ sở kinh doanh thương mại lắp đặt thêm theo yêu cầu của khách hàng.
  • Các cơ sở trên được coi là có mối quan hệ liên kết trong trường hợp này khi: Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia.
  • Trường hợp giá bán làm căn cứ xác định giá tính thuế thấp hơn tỷ lệ 7% so với giá bình quân của cơ sở kinh doanh thương mại bán ra thì quan thuế ấn định giá tính thuế…/.
 (Nguồn: Gdt.gov.vn - Mục Tin tức - Tin bài về Thuế - Đăng ngày: 14/09/2016)

V.   Chính sách xuất nhập khẩu đáng quan tâm có hiệu lực từ tháng 10

Tổng cục Hải quan cho biết, trong tháng 10/2016, có 5 văn bản quan trọng liên quan đến chính sách hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) của doanh nghiệp (DN) rất đáng quan tâm.
Liên quan đến chính sách thuế
  • Từ ngày 5/10/2016 đến hết ngày 31/12/2016, Thông tư số 16/2016/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định việc áp dụng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu và trứng gia cầm có xuất xứ từ các nước thành viên của Liên minh Kinh tế Á - Âu. Theo đó, hàng hóa để được áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu trong hạn ngạch thuế quan phải có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá do cơ quan có thẩm quyền của các nước thành viên thuộc Liên minh Kinh tế Á - Âu cấp (viết tắt là C/O form EAV).
  • Riêng đối với thuốc lá nguyên liệu, thương nhân Việt Nam có giấy phép nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu theo hạn ngạch thuế quan do Bộ Công Thương cấp theo quy định tại Thông tư 04/2014/TT-BCT ngày 27/01/2014 của Bộ Công Thương. Số lượng nhập khẩu tính trừ vào hạn ngạch thuế quan nhập khẩu theo giấy phép do Bộ Công Thương cấp. Thủ tục nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu và trứng gia cầm giải quyết tại hải quan cửa khẩu nơi làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá theo nguyên tắc trừ lùi tự động cho đến hết số lượng hạn ngạch thuế quan đối với từng mặt hàng quy định tại Phụ lục kèm theo Thông tư này.
Liên quan đến quy định về hải quan
  • Ngày 15/10, Quyết định số 33/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế cung cấp, sử dụng thông tin tờ khai hải quan điện tử có hiệu lực. Quy chế này quy định về việc cung cấp, sử dụng thông tin tờ khai hải quan điện tử để thực hiện các thủ tục về thuế, cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, thủ tục thanh toán qua ngân hàng và các thủ tục hành chính khác; chứng minh tính hợp pháp của hàng hóa lưu thông trên thị trường. Việc ban hành Quy chế này là rất cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc sử dụng tờ khai hải quan điện tử trong các hoạt động nghiệp vụ, góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động của các cơ quan liên quan và của DN.
  • Tiếp đến, ngày 25/10, Thông tư số 25/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng thay thế Thông tư số 03/2012/TT-BXD ngày 05/9/2012 về việc công bố Danh mục và mã số HS vật liệu amiăng thuộc nhóm amfibole cấm nhập khẩu cũng chính thức có hiệu lực. Theo đó, Danh mục và mã số HS vật liệu amiăng thuộc nhóm amfibole cấm nhập khẩu bao gồm các mã HS: 2524.10.00 và 2524.90.00.
(Nguồn: Thoibaotaichinhvietnam.vn; Xem chi tiết tại đây)

B.   BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐIỆN TỬ        

I.   Bộ LĐTB&XH hướng dẫn một số nội dung vướng mắc khi thực hiện Luật BHXH

Bộ LĐ-TB&XH vừa có Công văn 3432/LĐTBXH-BHXH trả lời BHXH Việt Nam về việc làm rõ một số nội dung vướng mắc khi thực hiện chế độ BHXH theo Luật BHXH năm 2014.
Bộ LĐ-TB&XH cũng đề nghị BHXH Việt Nam chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện.
Về chế độ ốm đau
NLĐ thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản bị ốm đau, tai nạn mà không phải tai nạn lao động hoặc phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 7 tuổi bị ốm đau mà thời gian nghỉ việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng (bao gồm cả trường hợp nghỉ việc không hưởng tiền lương) thì mức hưởng chế độ ốm đau được tính trên mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Trường hợp các tháng liền kề tiếp theo NLĐ vẫn tiếp tục bị ốm và phải nghỉ việc thì mức hưởng chế độ ốm đau được tính trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
Về chế độ thai sản
  • Lao động nữ mang thai đôi trở lên mà khi sinh nếu có con bị chết hoặc chết lưu hoặc tất cả các con đều bị chết thì trợ cấp một lần khi sinh con theo quy định tại Điều 38 của Luật BHXH được tính theo số con được sinh ra, bao gồm cả con bị chết hoặc chết lưu.
  • Theo quy định tại Khoản 3 Điều 31 của Luật BHXH thì lao động nữ đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 3 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn không quy định thời gian tối thiểu nghỉ dưỡng thai để được hưởng chế độ thai sản theo điều kiện quy định nêu trên.
  • Trợ cấp một lần khi sinh con trong trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH theo Điều 38 của Luật BHXH cũng được thực hiện đối với cả trường hợp người mẹ không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con mà người cha đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 9 của Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXHngày 29/12/2015 của Bộ LĐ-TB&XH.
  • Khoản 6 Điều 34 của Luật BHXH quy định trong trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà mẹ gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi, không phụ thuộc vào thời gian đã đóng BHXH.
  • Lao động nam đang đóng BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Khoản 2 Điều 34 của Luật BHXH thì có thể nghỉ làm nhiều lần nhưng tổng thời gian không quá thời gian quy định. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nam được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con, đối với trường hợp nghỉ làm nhiều lần thì thời gian bắt đầu nghỉ việc lần cuối cùng vẫn phải trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.
  • Thời gian tối đa nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật BHXH được tính cho một năm, kể từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12 của năm dương lịch.
  • Thời gian tính hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được tính trên cơ sở thời gian thực tế NLĐ nghỉ việc bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Về chế độ hưu trí
  • Khi giải quyết chế độ hưu trí đối với NLĐ thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 28 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CPngày 11/11/2015 của Chính phủ thì điều kiện hưởng lương hưu, cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu, tỷ lệ giảm trừ do nghỉ hưu trước tuổi, cách tính tuổi đời có tháng lẻ, thời gian đóng BHXH có tháng lẻ, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được thực hiện theo quy định của pháp luật trước ngày 01/01/2016. Đối với các trường hợp thuộc diện nêu trên mà thời điểm hưởng lương hưu kể từ ngày 01/02/2016 trở đi thì chế độ hưu trí được thực hiện theo quy định của Luật BHXH năm 2014.
  • Việc giải quyết chế độ hưu trí đối với lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH bắt buộc, được thực hiện như sau:
    • Trường hợp đã nghỉ việc và bảo lưu thời gian đóng BHXH từ trước ngày 01/01/2016, từ ngày 01/01/2016 trở đi nếu có nguyện vọng và đủ 55 tuổi thì được giải quyết hưởng lương hưu theo khoản 3 Điều 54 của Luật BHXH năm 2014.
    • Trường hợp tiếp tục đóng BHXH tự nguyện thì chế độ hưu trí được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH ngày 18/2/2016 của Bộ LĐ-TB&XH.
    • Trường hợp tiếp tục đóng BHXH bắt buộc (không còn thuộc diện người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn) thì việc giải quyết chế độ hưu trí thực hiện theo Khoản 1, Khoản 4 Điều 54 và Điều 55 của Luật BHXHnăm 2014.
  • Khi tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần mà có thời gian đóng BHXH trước ngày 01/10/2004 theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH của thời gian này được chuyển đổi theo chế độ tiền lương tại thời điểm hưởng chế độ hưu trí, tử tuất. Riêng đối với NLĐ có thời gian làm việc trong các doanh nghiệp đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định mà hưởng BHXH từ ngày 01/01/2016 trở đi thì tiền lương tháng đóng BHXH trước ngày 01/10/2004 nêu trên được chuyển đổi theo tiền lương quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ. Đối với những người là lao động xã hội mà sau khi được cử đi hợp tác lao động về nước tiếp tục tham gia đóng BHXH bắt buộc thì tiền lương tháng đóng BHXH của thời gian đi hợp tác lao động được tính bằng hai lần mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng BHXH.
  • NLĐ đã đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu mà thời gian đóng BHXH bắt buộc còn thiếu tối đa 6 tháng theo Khoản 6 Điều 85 của Luật BHXH hoặc thiếu tối đa 30 tháng theo Điểm e Khoản 1 Điều 3 của Nghị định số 26/2015/NĐ-CP ngày 9/3/2015 của Chính phủ được đóng một lần cho thời gian còn thiếu vào quỹ hưu trí và tử tuất để hưởng lương hưu thì tiền lương tháng đóng BHXH của những tháng còn thiếu là tiền lương của tháng trước khi nghỉ việc. Đối với trường hợp tháng trước khi nghỉ việc NLĐ đang làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên thì thời gian đóng BHXH cho những tháng còn thiếu không được tính là thời gian làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.
  • NLĐ đủ điều kiện về tuổi đời để hưởng lương hưu mà thời gian đóng BHXH bắt buộc còn thiếu tối đa 6 tháng, lựa chọn đóng một lần cho thời gian còn thiếu và đã hoàn thành việc đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất trước ngày 01/01/2016 thì được hưởng lương hưu kể từ ngày 01/01/2016.
  • Khi tính mức hưởng BHXH một lần hoặc trợ cấp tuất một lần trong trường hợp người đang đóng BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian đóng BHXH chết mà có thời gian đóng BHXH cả trước và sau ngày 01/01/2014, nếu thời gian đóng trước ngày 01/01/2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng BHXH từ ngày 01/01/2014 trở đi.
  • Khi tính mức trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu mà ra nước ngoài để định cư quy định tại Điều 65 của Luật BHXH năm 2014, nếu thời gian đóng BHXH có tháng lẻ thì thực hiện như khi tính mức hưởng BHXH một lần trong trường hợp thời gian đóng BHXH có tháng lẻ.
Về chế độ tử tuất
  • Khi xác định tuổi của con để làm căn cứ giải quyết chế độ tử tuất thì thực hiện như sau: Chưa đủ 18 tuổi được tính đến hết tháng liền kề trước tháng sinh của năm đủ 18 tuổi. Dưới 6 tuổi được tính đến hết tháng liền kề trước tháng sinh của năm đủ 6 tuổi.
  • Khi giải quyết chế độ tử tuất nếu hồ sơ của thân nhân NLĐ không xác định được ngày, tháng sinh thì lấy ngày 1 tháng 1 của năm sinh để tính tuổi làm cơ sở giải quyết chế độ tử tuất.
  • Việc xác định mức thu nhập của thân nhân NLĐ để làm căn cứ giải quyết trợ cấp tuất hàng tháng theo quy định tại khoản 3 Điều 67 của Luật BHXH được xác định tại tháng NLĐ chết. Thân nhân đã được giải quyết hưởng trợ cấp tuất hàng tháng theo đúng quy định mà sau đó có thu nhập cao hơn mức lương cơ sở thì vẫn hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.
  • NLĐ, thân nhân NLĐ đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động mà kết quả giám định đủ điều kiện để hưởng BHXH thì được thanh toán phí giám định y khoa theo Khoản 4 Điều 84 của Luật BHXH.
Về BHXH tự nguyện
  • Người tham gia BHXH tự nguyện đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định, trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2016 đến trước ngày Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH có hiệu lực thi hành đã đề nghị được đóng BHXH tự nguyện một lần cho thời gian còn thiếu nhưng từ ngày 4/4/2016 trở đi cơ quan BHXH mới thực hiện thu theo hướng dẫn tại Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH, NLĐ đã hoàn thành việc đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất trước ngày 01/07/2016 thì được hưởng lương hưu kể từ tháng liền kề sau tháng NLĐ đã đề nghị đóng nếu trong phần mềm tiếp nhận hoặc trong hồ sơ, sổ sách theo dõi tiếp nhận hồ sơ của cơ quan BHXH có thể hiện thời điểm đề nghị đóng của NLĐ.
  • NLĐ tham gia BHXH tự nguyện đã lựa chọn một trong các phương thức đóng quy định tại khoản 2 Điều 87 của Luật BHXH mà đủ điều kiện đóng một lần cho những năm còn thiếu (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và thời gian đóng BHXH còn thiếu tối đa không quá 10 năm) thì được lựa chọn đóng một lần cho những năm còn thiếu để hưởng lương hưu ngay khi đủ điều kiện mà không phải chờ thực hiện xong phương thức đóng đã chọn trước đó.
Về quy định chuyển tiếp
  • Về phụ cấp khu vực: Thời gian công tác tại các chiến trường B, C trước ngày 30/4/1975 và chiến trường K trước ngày 31/08/1989 được tính là thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 để làm căn cứ xét điều kiện để giải quyết chế độ hưu trí.
  • Đối với NLĐ đã có quyết định nghỉ việc chờ giải quyết chế độ hưu trí, trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Điều 25 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP mà được tính cộng nối thời gian công tác trước ngày 01/01/1995 đối với người chờ hưởng lương hưu và trước ngày 01/01/1998 đối với người chờ hưởng trợ cấp hàng tháng để tính hưởng BHXH thì tỉ lệ hưởng lương hưu hoặc tỉ lệ hưởng trợ cấp hàng tháng vẫn được tính theo chính sách tại thời điểm NLĐ nghỉ chờ.
  • Việc tính thời gian giữ chức danh Phó Công an xã trước ngày 01/01/1995 để tính hưởng BHXH được thực hiện theo hướng dẫn tại văn bản số 17/HT ngày 04/01/1978 của Bộ Thương binh và Xã hội.
(Nguồn: Baohiemxahoi.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)

II.   Hướng dẫn tạm thời thực hiện chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

BHXH Việt Nam vừa có văn bản hướng dẫn tạm thời thực hiện chế độ tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN) theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Theo đó, thực hiện công văn số 2533/LĐTBXH-ATLĐ của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ngày 07/07/2016 về việc hướng dẫn tạm thời thực hiện chế độ TNLĐ, BNN theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động. Trong khi chờ sửa Quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH ban hành kèm theo Quyết định số 636/QĐ-BHXH ngày 22/4/2016, BHXH Việt Nam yêu cầu BHXH các tỉnh, thành phố, BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân thực hiện một số nội dung sau:
  • Thứ nhất, về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng chế độ TNLĐ, BNN với người bị TNLĐ, BNN điều trị xong, ra viện từ ngày 01/07/2016 trở đi:
    • Đối với hồ sơ hưởng chế độ TNLĐ, bỏ thành phần hồ sơ quy định tại Khoản 3, Khoản 6 Điều 14 Quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH ban hành kèm theo Quyết định số 636/QĐ-BHXH ngày 22/4/2016 và các văn bản hướng dẫn của BHXH Việt Nam;
    • Đối với hồ sơ hưởng chế độ BNN, bỏ thành phần hồ sơ là biên bản đo đạc môi trường có yếu tố độc hại hoặc kết quả đo, kiểm tra môi trường lao động hoặc bản trích sao của các giấy tờ trên quy định tại Khoản 3 Điều 15 Quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH ban hành kèm theo Quyết định số 636/QĐ-BHXH;
    • Đối với văn bản đề nghị giải quyết chế độ TNLĐ, BNN (Mẫu số 05-HSB ban hành kèm theo Quyết định số 636/QĐ-BHXH), ghi bổ sung vào cuối Điểm 1 của văn bản nội dung như sau:
      • Đối với trường hợp hưởng chế độ TNLĐ: Biên bản điều tra TNLĐ số ... ngày ... tháng ... năm ... của Đoàn điều tra TNLĐ cấp cơ sở (nếu do Đoàn điều tra TNLĐ cấp cơ sở thực hiện) hoặc cấp tỉnh (nếu do Đoàn điều tra TNLĐ cấp tỉnh thực hiện) hoặc cấp Trung ương (nếu do Đoàn điều tra TNLĐ cấp Trung ương thực hiện); trường hợp tai nạn giao thông được xác định là TNLĐ thì ghi thêm nội dung: (biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn lập ngày ... tháng ... năm ... của ...);
      • Đối với trường hợp hưởng chế độ BNN: Biên bản đo đạc môi trường có yếu tố độc hại (nếu là biên bản đo đạc môi trường) hoặc kết quả đo, kiểm tra môi trường lao động (nếu là kết quả đo, kiểm tra môi trường) hoặc kết quả quan trắc môi trường lao động (nếu là kết quả quan trắc môi trường) số ... ngày ... tháng ... năm ... của ...
  • Thứ hai, về chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN mà thương tật, bệnh tật tái phát hoặc thương tật, bệnh tật được giám định tổng hợp tạm thời thực hiện theo các văn bản hướng dẫn ban hành trước ngày 01/07/2016./.
(Nguồn: Baohiemxahoi.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)

III.   Hướng dẫn bổ sung thanh toán tiền khám, chữa bệnh

Ngày 27/09/2016, Bộ Y Tế đã ban hành Công văn 7117/BYT-KH-TC hướng dẫn bổ sung việc thực hiện Thông tư liên tịch 37/2015/TTLT-BYT-BTC về giá dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc.
Bộ Y tế cho biết, trong thời gian qua, Bộ đã nhận được phản ánh của một số đơn vị, địa phương về một số vướng mắc trong triển khai Thông tư liên tịch 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc. Sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Y tế làm rõ thêm và hướng dẫn bổ sung một số nội dung ngoài các nội dung đã hướng dẫn tại công văn số 824/BYT-KH-TC và công văn số 1044/BYT-KH-TC của Bộ Y tế.
Theo đó, về thanh toán tiền khám bệnh, trường hợp người bệnh đến khám bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đã được khám, cấp thuốc về điều trị nhưng sau đó thấy có biểu hiện bất thường, quay trở lại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để khám lại ngay trong ngày hôm đó và được tiếp tục thăm khám thì lần khám này được coi như là lần khám thứ 2 trở đi trong một ngày, việc thu của người bệnh và thanh toán với cơ quan BHXH thực hiện theo hướng dẫn tại Điểm a, Khoản 1, Mục II công văn 824/BYT-KH-TC ngày 16/2/2016 của Bộ Y tế.
  • Trường hợp cơ sở khám, chữa bệnh có tổ chức các phòng khám chuyên khoa tại khoa lâm sàng, người bệnh đăng ký khám bệnh tại khoa khám bệnh và khám tại các phòng khám chuyên khoa khoa lâm sàng thì được tính như khám bệnh tại khoa khám bệnh. Việc tính chi phí và số lần khám bệnh trường hợp này thực hiện theo hướng dẫn tại Điểm a, Khoản 1, Mục II công văn số 824/BYT-KH-TC ngày 16/02/2016 của Bộ Y tế.
  • Trường hợp người bệnh vào khoa cấp cứu, không qua khoa khám bệnh: Nếu thời gian điều trị dưới 4 giờ: được thanh toán tiền khám bệnh, tiền thuốc và các dịch vụ kỹ thuật, không thanh toán tiền ngày giường bệnh điều trị nội trú; Nếu thời gian điều trị từ 4 giờ trở lên: thanh toán tiền ngày giường bệnh điều trị nội trú, tiền thuốc và các dịch vụ kỹ thuật theo quy định, không thanh toán tiền khám bệnh.
  • Đối với Phòng khám Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh không trực thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh: Áp dụng mức giá khám bệnh tại bệnh viện tuyến tỉnh hạng II.
Bên cạnh các quy định về thanh toán tiền khám bệnh, Công văn 7117/BYT-KH-TC còn hướng dẫn bổ sung về việc thanh toán ngày giường bệnh điều trị nội trú; Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh tại phòng khám đa khoa khu vực trực thuộc bệnh viện/trung tâm y tế huyện; Hướng dẫn việc áp dụng giá trong một số trường hợp cụ thể khác…
Các nội dung tại Công văn 7117/BYT-KH-TC hướng dẫn mới hoặc hướng dẫn bổ sung khác với các văn bản quy định và hướng dẫn cũ có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2016.
(Nguồn: Tapchitaichinh.vn; Xem chi tiết tại đây)
Bkav