Bản tin thuế tháng 10/2015  
08:48 | 14/10/2015

BẢN TIN THUẾ THÁNG 10/2015
(Thực hiện bởi Công ty Cổ phần Bkav)
 
I.   Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai tháng 10/2015 và quý III/2015

Kỳ lập bộ tháng 10/2015 sẽ hết hạn vào ngày 20/10/2015 đối với tờ khai tháng 9/2015 và các tờ khai quý III/2015 sẽ hết hạn vào ngày 30/10/2015. Bkav xin trân trọng thông báo để Quý khách hàng được biết và thực hiện kê khai, nộp tờ khai đúng hạn. 

Bkav lưu ý Quý khách hàng nên kê khai, nộp tờ khai, trước thời hạn hết hạn để tránh việc quá tải, không gửi được tờ khai.

Trong quá trình kê khai, Quý khách hàng hãy liên hệ với Trung tâm chăm sóc khách hàng Bkav CA qua email BkavCA@bkav.com hoặc số điện thoại 1900 18 54, để được hỗ trợ kịp thời.

Ngoài ra, Quý khách hàng có thể tham khảo Hướng dẫn xử lý các vấn đề thường gặp khi kê khai, nộp tờ khai tại đây./.      

II.   Mỗi doanh nghiệp sẽ được cấp 1 mã số duy nhất

Chính phủ vừa ban hành Nghị định mới quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh, quy định về cơ quan đăng ký kinh doanh và quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp. Theo đó, mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp. Mã số này đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp.

Thống nhất mã số doanh nghiệp

Nghị định trên thay thế Nghị  định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về  đăng ký doanh nghiệp và Nghị định số 05/2013/NĐ-CP ngày 9/1/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về thủ tục hành chính của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP. Cụ thể, ngoài các quy định chung liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, nguyên tắc áp dụng giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp, Nghị  định mới còn quy định cơ chế phối hợp liên thông điện tử tự động giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế thông qua quy trình tạo và sử dụng mã số doanh nghiệp.

Mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp. Mã số này đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp. Mã số doanh nghiệp được tạo, gửi, nhận tự động bởi Hệ thống thông tin quốc gia về  đăng ký doanh nghiệp, Hệ thống thông tin đăng ký thuế và được ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước thống nhất sử dụng mã số doanh nghiệp để quản lý và trao đổi thông tin về doanh nghiệp.

Việc liên thông điện tử tự động giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế sẽ góp phần rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, tạo thuận lợi hơn nữa cho người thành lập doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp.

Cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ trong 3 ngày

Để tạo thuận lợi hơn nữa cho người thành lập doanh nghiệp, Nghị định mới đã bổ sung quy định về Phòng Đăng ký kinh doanh. Theo quy định, Phòng Đăng ký kinh doanh có thể tổ chức các điểm tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc Phòng Đăng ký kinh doanh tại các địa điểm khác nhau trên địa bàn cấp tỉnh.

Một điểm mới nữa của Nghị  định này là việc rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và quy định về cơ chế liên thông điện tử giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế. Theo đó, thời hạn để cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được giảm từ 5 ngày làm việc xuống còn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

Doanh nghiệp có thể có nhiều con dấu

Nghị định mới cũng bổ sung quy định về hồ sơ thông báo mẫu dấu theo hướng tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp khi thông báo mẫu dấu, góp phần cải thiện chỉ số khởi sự kinh doanh của nước ta theo đánh giá của các tổ chức quốc tế. Nghị định mới quy định, doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, nội dung và số lượng con dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện.

Doanh nghiệp có thể có nhiều con dấu với hình thức và nội dung như nhau. Việc thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử được kỳ vọng như một công cụ tiện lợi, hiệu quả, góp phần giảm thiểu thời gian thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, minh bạch hóa công tác đăng ký doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc tiếp nhận và quản lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.

Do đó, nhằm khuyến khích doanh nghiệp thực hiện đăng ký thành lập thông qua hình thức này, quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử tại Nghị định mới được thiết kế theo hướng tạo thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp. Cụ thể, tổ chức, cá nhân lựa chọn sử dụng chữ ký số công cộng hoặc sử dụng Tài khoản đăng ký kinh doanh để đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử.

Ngoài ra, Nghị định mới cũng bổ sung một số quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; trình tự, thủ tục đăng ký tạm ngừng kinh doanh, cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giải thể doanh nghiệp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
(Nguồn: Taichinhdientu.vn; Xem chi tiết tại đây)

III.   Tổng cục Thuế hướng dẫn hoàn thuế trong trường hợp nộp thừa

Trả lời Công văn số 5589/CV-THNVDT ngày 24/7/2015 của Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh về việc hướng dẫn hoàn thuế trong trường hợp nộp thừa, ngày 18/8/2015 Tổng cục Thuế có Công văn 3356/TCT-KK giải đáp như sau:
Căn cứ hướng dẫn tại Khoản 2 (b, c), Điều 33, Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ:

b) Bù trừ tự động với số tiền phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo của từng loại thuế có cùng nội dung kinh tế (tiểu mục) quy định của mục lục ngân sách nhà nước (trừ trường hợp nêu tại điểm b khoản 1 Điều này). Trường hợp quá 06 (sáu) tháng kể từ thời điểm phát sinh số tiền thuế nộp thừa mà không phát sinh khoản phải nộp tiếp theo thì thực hiện theo hướng dẫn tại điểm c khoản này.

c) Người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa theo hướng dẫn tại điểm b, khoản 1 Điều này và người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa quy định tại điểm a, khoản này sau khi thực hiện bù trừ theo hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản này mà vẫn còn số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa thì người nộp thuế gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý để được giải quyết hoàn thuế theo hướng dẫn tại Chương VII Thông tư này.

Căn cứ hướng dẫn nêu trên: Trường hợp DN có số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền thuế phải nộp, tuy nhiên trong 06 tháng kể từ thời điểm phát sinh số tiền thuế nộp thừa, hàng tháng DN vẫn phát sinh số thuế GTGT phải nộp thì DN không thuộc trường hợp được hoàn số thuế GTGT nộp thừa nêu trên theo quy định tại Điều 33, Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.
(Nguồn: Thời báo tài chính Việt Nam; Xem chi tiết tại đây)

IV.   Giá tính thuế GTGT với hàng khuyến mại bằng 0

Tổng cục Thuế vừa ban hành Công văn 3809/TCT-DNL hướng dẫn về hóa đơn đối với hàng khuyến mại. Theo đó, người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại.

Giá tính thuế GTGT đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại được xác định bằng 0.

Đối với tổ chức kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ: sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải lập hóa đơn, trên hóa đơn ghi tên và số lượng hàng hóa, ghi rõ là hàng khuyến mại và thực hiện theo hướng dẫn của pháp luật về thuế GTGT.

Khi bán hàng hóa, dịch vụ có tổng giá thanh toán dưới 200.000 đồng mỗi lần thì không phải lập hóa đơn, trừ trường hợp người mua yêu cầu lập và giao hóa đơn nhưng phải tuân thủ các quy định về lập Bảng kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụ theo Điều 18 Thông tư 39/2014/TT-BTC.

Cuối mỗi ngày, cơ sở kinh doanh lập một hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng ghi số tiền bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong ngày thể hiện trên dòng tổng cộng của bảng kê, ký tên và giữ liên giao cho người mua, các liên khác luân chuyển theo quy định./.
 (Nguồn: Thời báo tài chính Việt Nam; Xem chi tiết tại đây)

V.   Hướng dẫn thủ tục nhập khẩu ô tô, xe máy miễn thuế

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 143/2015/TT-BTC ngày 11/9 về thủ tục hải quan và quản lý xe ô tô, xe gắn máy của các đối tượng được phép nhập khẩu, tạm nhập khẩu không nhằm mục đích thương mại.
Thông tư quy định cụ thể về trình tự, hồ sơ, thủ tục nhập khẩu, tạm nhập khẩu, xuất khẩu, chuyển nhượng đối với các xe ô tô, gắn máy không mục đích thương mại. 

Các đối tượng được nhập khẩu, tạm nhập khẩu xe ô tô, gắn máy theo quy định tại Thông tư là người Việt Nam định cư tại nước ngoài là trí thức, chuyên gia, công nhân lành nghề về nước làm việc trong thời gian từ một năm trở lên theo lời mời của cơ quan Nhà nước Việt Nam; Chuyên gia nước ngoài tham gia quản lý và thực hiện các chương trình, dự án ODA tại Việt Nam đảm bảo điều kiện được tạm nhập khẩu xe ô tô, xe gắn máy quy định tại Quyết định số 119/2009/QĐ-TTg ngày 01/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ; Tổ chức, cá nhân được nhập khẩu, tạm nhập khẩu xe ô tô, xe gắn máy theo quy định tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; Các đối tượng khác được nhập khẩu xe ô tô, xe gắn máy không nhằm mục đích thương mại theo quy định của pháp luật có liên quan…

Điều kiện nhập khẩu với xe ô tô, thông tư quy định thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành đối với xe ô tô đã qua sử dụng hoặc xe ô tô chưa qua sử dụng. Đối với xe gắn máy, Thông tư quy định xe gắn máy nhập khẩu, tạm nhập khẩu là xe chưa qua sử dụng và đảm bảo các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, đăng ký, lưu hành theo pháp luật hiện hành. Nếu nhập khẩu theo hình thức quà biếu, quà tặng thì trong 1 năm, mỗi tổ chức, cá nhân Việt Nam chỉ được nhập khẩu 1 xe ô tô và 1 xe gắn máy do tổ chức, cá nhân nước ngoài biếu, tặng.

Đối với xe của các cá nhân được nhập khẩu, Thông tư quy định thời hạn thực hiện chuyển nhượng là trong thời hạn ít nhất 30 ngày trước khi kết thúc thời hạn công tác tại Việt Nam theo xác nhận của cơ quan chủ quản.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/10/2015./.
 (Nguồn: Tapchithue.com.vn; Xem chi tiết tại đây)

VI.   Hà Nội xây dựng cơ sở dữ liệu cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 92/2015/TT-BTC hướng dẫn thuế GTGT, thuế thu nhập cá nhân quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về thuế, có hiệu lực từ ngày 30/7/2015.

Trong nội dung Thông tư số 92/2015/TT-BTC đã hướng dẫn các giải pháp để cơ quan thuế nâng cao hiệu quả quản lý, tăng cường sự kiểm tra, giám sát trong công tác quản lý thuế hộ kinh doanh, đảm bảo mục tiêu công khai - minh bạch - công bằng; trong đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu hộ kinh doanh để quản lý theo tiêu chí rủi ro là một trong những giải pháp quan trọng, mang tính đột phá được quy định tại Khoản 12, Điều 6: “d) Chi cục Thuế có trách nhiệm cập nhật kịp thời các thông tin biến động trong quá trình quản lý đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán. Định kỳ đến ngày 01 tháng 11 hằng năm, các Chi cục Thuế, Cục Thuế phải xây dựng xong cơ sở dữ liệu về cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán (bao gồm cả cá nhân kinh doanh trong danh sách cá nhân thuộc diện không phải nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân) trên cơ sở thông tin từ hồ sơ của người nộp thuế, kết quả số liệu xác minh, kiểm tra, thanh tra của cơ quan thuế và thông tin từ các cơ quan quản lý nhà nước liên quan”.

Nhằm hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu của cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán đúng quy định tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC UBND thành phố Hà Nội đã có công văn yêu cầu các sở, ban, ngành; UBND quận, huyện, thị xã và Cục Thuế thành phố Hà Nội thực hiện ngay một số nội dung sau (trong tháng 9 và tháng 10/2015):

Cục Thuế thành phố Hà Nội: Thành lập Ban chỉ đạo, Tổ thường trực triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu về cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán trên địa bàn thành phố. Chỉ đạo, hướng dẫn các chi cục thuế triển khai, đảm bảo hoàn thành công tác xây dựng cơ sở dữ liệu về cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán trước ngày 01/11/2015. Trong quá trình triển khai thực hiện, kịp thời báo cáo UBND quận, huyện, thị xã các khó khăn, vướng mắc và đề xuất các giải pháp tháo gỡ vướng mắc. Phối hợp các cơ quan báo chí, truyền thông tổ chức tuyên truyền, phổ biến về việc xây dựng cơ sở dữ liệu của cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán tới các cơ quan chức năng, các hộ, cá nhân kinh doanh và dân cư trên địa bàn Thành phố.

UBND quận, huyện, thị xã: Chỉ đạo, hỗ trợ các chi cục thuế triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu về cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán hiệu quả, hoàn thành đúng tiến độ. Chỉ đạo UBND các phường, xã, thị trấn và cơ quan chức năng trên địa bàn phối hợp cơ quan thuế; Hội đồng tư vấn thuế trực tiếp tham gia cùng cơ quan thuế thu thập và khảo sát thông tin để thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu về cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán trên địa bàn. Nâng cao hiệu quả, chất lượng của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn trong việc phối hợp chi cục thuế xây dựng cơ sở dữ liệu hộ kinh doanh. Chủ động phối hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư chỉ đạo Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp đăng ký kinh doanh đầy đủ đối với các hộ, cá nhân kinh doanh trên địa bàn và cung cấp thông tin cho cơ quan thuế để thực hiện phân loại và quản lý thuế.

Sở Tài nguyên Môi trường: Chủ động phối hợp Sở Tài chính chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường quận, huyện, thị xã phối hợp chi cục thuế xác định các chỉ số liên quan đến giá đất ở, giá nhà theo quy định để xây dựng cơ sở dữ liệu về cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán.
(Nguồn: Thời báo tài chính Việt Nam; Xem chi tiết tại đây)
 
 Bkav