Bản tin thuế, bảo hiểm xã hội điện tử tháng 05/2016

A.   THUẾ ĐIỆN TỬ
I.   Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai tháng 05/2016

Bkav xin thông báo, kỳ lập bộ tháng 05/2016 sẽ hết hạn vào thứ Sáu ngày 20/05/2016 đối với tờ khai tháng 04/2016. Bkav xin trân trọng thông báo để Quý khách hàng được biết và thực hiện kê khai, nộp tờ khai đúng hạn.

Bkav lưu ý Quý khách hàng nên kê khai, nộp tờ khai trước thời hạn hết hạn để tránh việc quá tải, không gửi được tờ khai.

Trong quá trình kê khai, nếu gặp vấn đề cần hỗ trợ, Quý khách hàng hãy liên hệ với Trung tâm Chăm sóc khách hàng Bkav CA qua email BkavCA@bkav.com hoặc số điện thoại 1900 18 54, để được hỗ trợ kịp thời.

Ngoài ra, Quý khách hàng có thể tham khảo Hướng dẫn và trao đổi các vấn đề thường gặp khi kê khai, nộp tờ khai tại Fanpage Bkav CA theo địa chỉ https://www.facebook.com/BkavCA

II.   Bãi bỏ thêm 02 thủ tục hành chính thuế

Bộ trưởng Bộ Tài chính vừa ký ban hành Quyết định số 832/QĐ-BTC công bố 6 thủ tục hành chính sửa đổi, thay thế, bãi bỏ trong lĩnh vực quản lý thuế thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
Trong đó có 4 thủ tục hành chính sửa đổi, thay thế và 2 thủ tục hành chính bãi bỏ, cụ thể:
  • 4 thủ tục hành chính được sửa đổi, thay thế gồm thủ tục "Khai thuế tài nguyên đối với cơ sở khai thác tài nguyên" và thủ tục "Khai quyết toán thuế tài nguyên (trừ dầu thô, khí thiên nhiên)" ở cả 2 cấp thực hiện là Cục Thuế và Chi cục thuế.
  • 2 thủ tục hành chính bị bãi bỏ là "Khai phương pháp xác định giá tính thuế tài nguyên" ở cấp Cục thuế và cấp Chi cục thuế.
Quyết định cũng nêu rõ nội dung cụ thể của từng thủ tục hành chính sau khi được sửa đổi, thay thế từ trình tự, cách thức thực hiện, số lượng hồ sơ đến thời hạn giải quyết, mẫu tờ khai cũng như yêu cầu, điều kiện thực hiện các thủ tục này.
(Nguồn: Baohaiquan.vn; Xem chi tiết tại đây)

III.   Kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng tại chi nhánh phụ thuộc

Tổng cục Thuế vừa có văn bản 1421/TCT-KK trả lời Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông về việc kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) tại chi nhánh phụ thuộc.

Tổng cục Thuế cho biết, trường hợp Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông, trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành lập cơ sở sản xuất trực thuộc là Chi nhánh Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông - Nhà máy Nhựa Tiên Sơn thuộc địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Chi nhánh trực thuộc chỉ hoạt động sản xuất, không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu, không thực hiện hạch toán kế toán thì Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông thực hiện khai thuế tại trụ sở chính (Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh) và nộp thuế cho địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc (Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh).

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc được xác định theo tỷ lệ 2% (đối với hàng hóa chịu thuế suất thuế GTGT 10%) hoặc theo tỷ lệ 1% (đối với hàng hóa chịu thuế suất thuế GTGT 5%) trên doanh thu theo giá chưa có thuế GTGT của sản phẩm sản xuất ra. Việc xác định doanh thu của sản phẩm sản xuất ra được xác định trên cơ sở giá thành sản phẩm hoặc doanh thu của sản phẩm cùng loại tại địa phương nơi có cơ sở sản xuất.

Trường hợp tổng số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc do người nộp thuế xác định theo nguyên tắc nêu trên lớn hơn số thuế giá trị gia tăng phải nộp của người nộp thuế tại trụ sở chính thì người nộp thuế tự phân bổ số thuế phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc như sau:
  • Số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc được xác định bằng (=) số thuế giá trị gia tăng phải nộp của người nộp thuế tại trụ sở chính nhân (x) với tỷ lệ (%) giữa doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng của sản phẩm do cơ sở trực thuộc sản xuất ra hoặc sản phẩm cùng loại tại địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc trên tổng doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng của sản phẩm sản xuất ra của toàn doanh nghiệp. Nếu người nộp thuế không phát sinh số thuế phải nộp tại trụ sở chính thì người nộp thuế không phải nộp thuế cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất.
  • Người nộp thuế phải lập và gửi “Bảng phân bổ thuế GTGT cho địa phương nơi đóng trụ sở chính và cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện hạch toán kế toán” theo mẫu số 01-6/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính cùng với hồ sơ khai thuế tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp, đồng thời gửi một bản Bảng phân bổ mẫu số 01-6/GTGT nêu trên tới các cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất trực thuộc.
  • Căn cứ số thuế giá trị gia tăng được phân bổ giữa địa phương nơi đóng trụ sở chính của người nộp thuế và các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc trên Bảng phân bổ theo mẫu số 01-6/GTGT nêu trên, người nộp thuế lập chứng từ nộp thuế GTGT cho địa phương nơi có trụ sở chính và từng địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc. Trên chứng từ nộp thuế phải ghi rõ nộp vào tài khoản thu ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước đồng cấp với cơ quan thuế nơi trụ sở chính đăng ký kê khai thuế và địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc.
(Nguồn: Taichinhdientu.vn; Xem chi tiết tại đây)

IV.   Hướng dẫn mới về sử dụng hóa đơn lẻ

Tổng cục Thuế vừa ban hành Công văn 1695/TCT-QLN về việc sử dụng hóa đơn lẻ.
Ngày 15/10/2015, Bộ Tài chính có công văn số 14451/BTC-TCT về việc triển khai biện pháp quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế quý IV/2015 có quy định đối với biện pháp Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng.
Qua phản ánh của các Cục Thuế thì trên thực tế các Cục Thuế gặp một số vướng mắc khi triển khai thực hiện theo quy định tại công văn số 14451/BTC-TCT nêu trên.
Để phù hợp với thực tế; đồng thời giải quyết khó khăn cho người nộp thuế, Tổng cục Thuế cho biết, trường hợp đang áp dụng biện pháp cưỡng chế thông báo hóa đơn không có giá trị sử dụng, nếu người nộp thuế có văn bản đề nghị sử dụng từng hóa đơn lẻ cho từng lô hàng, hạng mục công trình hoàn thành để có nguồn thanh toán tiền lương công nhân, thanh toán các khoản chi phí đảm bảo sản xuất kinh doanh được liên tục thì Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện tiếp tục cho người nộp thuế sử dụng từng hóa đơn lẻ với điều kiện người nộp thuế có văn bản cam kết thực hiện nộp ngay toàn bộ số thuế phát sinh trên hóa đơn lẻ được sử dụng và nộp một phần tiền thuế nợ ít nhất bằng 15% doanh thu trên hóa đơn được sử dụng.
Đối với một số trường hợp đặc thù đã cam kết sử dụng hóa đơn như trên, giao đồng chí Cục trưởng Cục Thuế xem xét thực tế để cho phép: Người nộp thuế đề nghị 1 lần nhưng được sử dụng nhiều hóa đơn, cơ quan thuế phải đảm bảo thu được ngay được toàn bộ số thuế phát sinh trên hóa đơn lẻ và thu hồi số thuế nợ theo cam kết.
Nếu người nộp thuế vi phạm cam kết thì cơ quan thuế dừng ngay việc sử dụng hóa đơn lẻ của người nộp thuế.
(Nguồn: Taichinhdientu.vn; Xem chi tiết tại đây)

V.   Miễn thuế cho chuyên gia nước ngoài

Cục Thuế TP Hà Nội vừa tóm tắt một số nội dung mới đáng lưu ý trong chính sách thuế tháng 04/2016, trong đó có việc miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với chuyên gia nước ngoài thực hiện chương trình, dự án viện trợ cho Việt Nam.

Ngày 22/02/2016 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 06/2016/QĐ-TTg về việc miễn thuế TNCN đối với chuyên gia nước ngoài thực hiện chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam; miễn thuế TNCN đối với cá nhân là người Việt Nam làm việc tại các cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc tại Việt Nam.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/05/2016.

Miễn thuế cho chuyên gia nước ngoài

Quyết định này quy định về việc miễn thuế TNCN đối với chuyên gia nước ngoài trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam và chuyên gia nước ngoài được tuyển chọn để trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài.

Các yếu tố này dựa trên cơ sở thống nhất giữa tổ chức phi chính phủ nước ngoài và cơ quan chủ quản dự án của Việt Nam, quy định tại văn kiện chương trình, dự án đã được phê duyệt theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài.

Điều kiện để được miễn thuế:
  • Là người có quốc tịch nước ngoài;
  • Có hợp đồng ký giữa chuyên gia nước ngoài với tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoặc với cơ quan chủ quản dự án hoặc với chủ khoản viện trợ phi chính phủ nước ngoài của Việt Nam trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài theo văn kiện chương trình, dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và điều khoản giao việc (TOR) cho chuyên gia nước ngoài đính kèm hợp đồng.
Riêng hợp đồng ký giữa chuyên gia nước ngoài với tổ chức phi chính phủ nước ngoài bổ sung xác nhận của chủ khoản viện trợ phi chính phủ của Việt Nam về việc chuyên gia nước ngoài trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài theo văn kiện chương trình, dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Thu nhập của chuyên gia nước ngoài được miễn thuế là thu nhập trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài.

Cá nhân Việt Nam được miễn thuế

Vấn đề thứ hai là việc miễn thuế đối với cá nhân là người Việt Nam làm việc tại các cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc tại Việt Nam.
Phạm vi, đối tượng áp dụng là:
  • Cá nhân là người Việt Nam làm việc tại cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc tại Việt Nam và được tuyển dụng theo hợp đồng để làm việc tại cơ quan đại diện đó. Việc miễn thuế không áp dụng đối với cá nhân được tuyển dụng và làm việc theo giờ tại cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc tại Việt Nam;
  • Người đủ điều kiện miễn thuế có quốc tịch Việt Nam;
  • Là nhân viên của cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc tại Việt Nam, do đại diện có thẩm quyền của cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế xác nhận theo danh sách gửi cơ quan thuế.
Thu nhập miễn thuế là thu nhập từ tiền lương, tiền công do cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc tại Việt Nam chi trả./.
(Nguồn: Thoibaotaichinhvietnam.vn; Xem chi tiết tại đây)

VI.   Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế TTĐB và luật quản lý thuế - tăng tính khả thi và góp phần bảo hộ DN Việt một cách hợp lý

Ngày 06/04/2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội Khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế. Với hiệu lực thi hành sớm kể từ ngày 01/07/2016, Luật thể hiện các thông điệp chính sách nhằm đơn giản công tác quản lý thuế, tăng tính khả thi trong tuân thủ, đồng thời bảo vệ doanh nghiệp (DN) Việt Nam một cách hợp pháp trong bối cảnh hội nhập sâu hơn từ năm 2018.

Sửa đổi, bổ sung Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) số 13/2008/QH12 
  • Một là: Tiếp theo những nội dung đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 31/2013/QH13, thuế GTGT kiên trì thực hiện nguyên tắc đối xử công bằng giữa hàng nông sản nhập khẩu và hàng nông sản được sản xuất trong nước, bảo đảm sự bình đẳng giữa DN trong nước và DN nước ngoài. Từ thực tiễn thi hành Nghị định số 209/2013/NĐ-CP, Thông tư số 219/2013/TT-BTC, số 26/2015/TT-BTC, quy định về thuế đối với hàng nông sản được kế thừa và bổ sung thêm nội dung nhằm vừa tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hoá, vừa ngăn chặn việc lợi dụng để hoàn thuế đối với nông sản xuất khẩu. Theo đó, Khoản 1, điều 5 Luật thuế GTGT nay được sửa đổi theo hướng: “Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và các mặt hàng này ở khâu nhập khẩu thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Tại khâu kinh doanh tiếp theo, các DN, hợp tác xã (là người nộp thuế theo phương pháp khấu trừ) có mua sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường để bán cho DN, hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Với quy định này, các DN, hợp tác xã kinh doanh hàng nông sản trong thị trường nội địa sẽ vừa tiết kiệm được chi phí tài chính do không phải bỏ tiền nộp thuế trước đối với hàng nông sản khi mua vào hoặc nhập khẩu; đồng thời bảo đảm được quyền khấu trừ thuế đầu vào đối với các chi phí trong khâu lưu thông có đóng góp làm tăng giá trị của hàng hoá nông sản (như chi phí đóng gói, xử lý, bảo quản, vận tải, quản lý,…).
  • Hai là: Mở rộng diện đối tượng không chịu thuế GTGT (nội dung tại khoản 9, điều 5 Luật thuế GTGT) đối với các hoạt động dịch vụ mang tính bảo trợ, an sinh xã hội, như: Dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật nuôi; nay bổ sung thêm dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật cũng thuộc diện không chịu thuế GTGT để người cao tuổi, người khuyết tật có cơ hội thụ hưởng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, dưỡng lão với mức giá hợp lý.
  • Ba là: Luật quy định cụ thể, rõ ràng tiêu chí trong phân loại tài nguyên làm cơ sở thiết kế các chính sách khuyến khích chế biến sâu, hạn chế và không khuyến khích xuất khẩu tài nguyên dạng thô, khoáng sản chưa qua chế biến, hoặc có giá trị chế biến thấp. Trên cơ sở đó, chúng ta sẽ không áp dụng thuế suất 0% và cũng không thực hiện việc khấu trừ thuế đầu vào đối với: “Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị gía tài nguyên, khoáng sản công với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên.”. Nội dung về tiêu chí 51% được thể hiện trong sửa đổi khoản 23 của điều 5 và quy định không áp dụng thuế suất 0% được thể hiện sửa đổi tại cuối khoản 1 của điều 8 Luật thuế giá trị gia tăng. Bên cạnh đó, tiếp tục kế thừa và quy định rõ hơn đối với các trường hợp xuất khẩu ra nước ngoài nhưng không được áp dụng thuế suất 0% (gồm các hoạt động: Chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài; dịch vụ cấp tín dụng, chuyển nhượng vốn ra nước ngoài, dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông chiều đi ra nước ngoài; sản phẩm xuất khẩu tài nguyên khoáng sản nêu trên).
  • Bốn là: Không thực hiện hoàn thuế GTGT đối với sản xuất kinh doanh khâu nội địa nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường biện pháp quản lý, giảm bớt tồn kho, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hoá. Đồng thời xoá bỏ tình trạng khó khăn lâu nay là: trong một doanh nghiệp có tháng thì được hoàn thuế, nhưng có tháng phải nộp thuế; nhiều khi số thuế đề nghị hoàn đang bị khoanh lại nhưng doanh nghiệp phải bỏ tiền nộp thuế ngay. Quy định về hoàn thuế GTGT tại điều 13 Luật thuế GTGT sẽ có 03 nội dung mới được sửa đổi, bổ sung như sau:
    • Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo (thay cho quy định hiện nay là được hoàn thuế nếu doanh nghiệp có số thuế GTGT đầu vào luỹ kế 12 tháng chưa được khấu trừ hết).
    • Trường hợp cơ sở kinh doanh có dự án đầu tư mới, có số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào đang sử dụng cho đầu tư mà doanh nghiệp chưa được khấu trừ và có số thuế còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT. Tuy nhiên, sẽ không được hoàn số thuế GTGT chưa được khấu trừ của dự án đầu tư, mà chuyển sang kỳ tiếp theo để khấu trừ đối với các trường hợp:
      • Dự án đầu tư của doanh nghiệp không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động;
      • Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 01/07/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên.
    • Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế theo tháng, quý. Tuy nhiên, việc hoàn thuế sẽ không áp dụng trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu mà không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật hải quan. Bên cạnh đó, Luật có quy định mới tạo thuận lợi và nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về thuế và hải quan, đó là áp dụng chế độ ưu tiên là: Thực hiện hoàn thuế trước, kiểm tra sau đối với người nộp thuế là doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu mà trong 2 năm liên tục không vi phạm pháp luật về thuế, hải quan và người nộp thuế không thuộc đối tượng rủi ro cao theo quy định của Luật quản lý thuế.
Sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) số 27/2008/QH12

Tiếp theo nội dung sửa đổi về thuế suất và lộ trình áp dụng thuế suất đối với một số mặt hàng như rượu, bia, thuốc lá (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 70/2014/QH13), việc sửa đổi lần này có mục tiêu lớn hơn. Theo đó, sẽ xây dựng môi trường khi doanh bình đẳng, bảo vệ hợp pháp hàng hoá chịu thuế TTĐB được sản xuất trong nước, khắc phục các “lỗ hổng chính sách” từ thực tiễn quản lý hàng nhập khẩu, đồng thời định hướng tiêu dùng mặt hàng ôtô du lịch cá nhân dưới 24 chỗ ngồi:
  • Một là, sửa quy định về giá tính thuế (quy định tại điều 6 Luật thuế TTĐB): Đây là nội dung quan trọng nhất và được rất nhiều ý kiến trao đổi tại diễn đàn Quốc hội cũng như có sự tranh luận gay gắt giữa các hiệp hội doanh nghiệp. Quy định mới sẽ bảo đảm sự bình đẳng về giá tính thuế, cách tính thuế và mức thuế giữa hàng hoá (thuộc diện chịu thuế TTĐB) được sản xuất tại Việt Nam với hàng hoá cùng loại được nhập khẩu. Với mục tiêu xây dựng môi trường khi doanh bình đẳng, bảo vệ hợp pháp hàng hoá chịu thuế TTĐB được sản xuất trong nước, khắc phục các bất cập trong chính sách, hạn chế tối đa sự lợi dụng tại khâu nhập khẩu, Luật quy định giá tính thuế TTĐB đối với hàng hóa nhập khẩu là giá do cơ sở nhập khẩu bán ra như đang áp dụng đối với hàng hóa sản xuất trong nước. Thay cho quy định lâu nay đang thực hiện là tính thuế TTĐB trên giá CIF (giá nhập khẩu) cộng với (+) thuế nhập khẩu, các doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ được bảo đảm bình đẳng với doanh nghiệp nước ngoài vì sẽ khắc phục được tình trạng lâu nay là khai giá thấp trên hợp đồng ngoại, khai thấp trị giá hải quan để trốn tránh các loại thuế tại khâu nhập khẩu, bao gồm cả thuế NK, thuế TTĐB và thuế GTGT.
  • Hai là, Luật sửa đổi lần này có quy định mới nhằm ngăn ngừa việc né tránh thuế TTĐB của các doanh nghiệp sử dụng mô hình tổ chức công ty mẹ, công ty con, mô hình liên kết, công ty sở hữu chéo… vừa thực hiện hành vi chuyển giá để né thuế TTĐB tại khâu đầu, vừa dịch chuyển lãi sang các khâu sau thông qua việc quy định mức giá bán giữa các công ty trong nhóm liên kết. Quy định mới là: “Trường hợp hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được bán cho cơ sở kinh doanh thương mại là cơ sở có quan hệ công ty mẹ, công ty con; hoặc mua/bán giữa các công ty con trong cùng công ty mẹ với cơ sở nhập khẩu, cơ sở sản xuất; hoặc mua/bán giữa cơ sở kinh doanh thương mại mà có mối quan hệ liên kết với cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt không được thấp hơn tỷ lệ % so với giá bình quân của các cơ sở kinh doanh thương mại mua trực tiếp của cơ sở sản xuất, nhập khẩu bán ra theo quy định của Chính phủ”. Căn cứ vào quy định này, khi Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật sẽ có quy định cụ thể về tỷ lệ % áp dụng phù hợp với đặc điểm của từng loại mặt hàng (ví dụ tỷ lệ % chiết khấu trong khâu thương mại của mặt hàng rượu bia sẽ phải cao hơn tỷ lệ % áp dụng đối với mặt hàng ô tô, khác với tỷ lệ % quy định đối với mặt hàng thuốc lá.
  • Ba là, sửa đổi quy định về biểu thuế, mức thuế TTĐB áp dụng đối với mặt hàng ô tô du lịch dưới 24 chỗ ngồi (sửa quy định tại Khoản 4, Mục I Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt quy định tại Điều 7 của Luật thuế TTĐB số 70/2014/QH13) nhằm mục tiêu định hướng tiêu dùng, góp phần bảo vệ môi trường. Cụ thể như sau:
    • Luật số 70/2014/QH13 quy định mức thuế suất TTĐB (45%; 50% và 60%) áp dụng đối với mặt hàng ô tô du lịch chở người dưới 24 chỗ ngồi theo các tiêu chí: mức tiêu hao nhiên liệu qua dung tích xi lanh (cm3); số chỗ ngồi gắn với mục đích sử dụng xe và theo loại nhiêu liệu sử dụng có tác động ảnh hưởng đến môi trường. Theo đó, loại xe chở người dưới 10 chỗ ngồi thì áp dụng mức thuế suất 45% đối với loại xe có dung tích xi lanh từ 2,000 cm3 trở xuống; áp thuế suất 50% đối với xe có dung tích xi lanh từ 2,000 cm3 đến dưới 3,000 cm3; đối với loại xe có dung tích xi lanh từ 3,000 cm3 trở lên thì áp dụng thuế suất cao nhất là 60%.
    • Luật sửa đổi ngày 06/04/2016 tuy vẫn giữ nguyên tắc quy định mức thuế suất phân biệt theo loại xe với các tiêu chí nêu trên nhưng thực hiện phân loại chi tiết hơn mức tiêu hao nhiên liệu qua chỉ số dung tích xi lanh và có quy định cụ thể lộ trình áp dụng cho 2 giai đoạn trước và sau 2018 (là năm hết lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết tự do hoá thương mại đã ký kết). Về số lượng mức thuế suất đối với xe ô tô chở người dưới 24 chỗ ngồi sẽ bao gồm 14 mức thuế suất cơ bản, trong đó thuế suất thấp nhất là 5% và cao nhất là 150%. Loại xe có dung tích nhỏ hơn, tiêu hao năng lượng ít hơn sẽ được áp mức thuế thấp hơn và được giảm tiếp so với Luật hiện hành, do vậy mà những người có mức thu nhập trung bình khá trở xuống có thêm cơ hội sở hữu ô tô.  
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế

Nhằm nâng cao tính khả thi của Luật, chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp trong thực hiện nghĩa vụ thuế, tăng niềm tin với người nộp thuế theo tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính, vừa thể hiện giảm mức động viên đối với người nộp thuế nhỏ đồng thời với việc giảm bớt chi phí xã hội trong quản lý thuế… Việc sửa đổi Luật quản lý thuế tập trung vào các điểm sau đây:
  • Một là: Sửa đổi nội dung về miễn, giảm thuế tại điều 61 của Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 21/2012/QH13 và Luật số 71/2014/QH3) áp dụng với người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Theo đó, cơ quan quản lý thuế sẽ thực hiện miễn thuế, giảm thuế đối với các trường hợp thuộc diện miễn thuế, giảm thuế được quy định tại các văn bản pháp luật về thuế và thực hiện miễn thuế đối với hộ gia đình, cá nhân có số thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp hằng năm từ 50 nghìn đồng trở xuống. Tổng số thuế miễn, giảm theo quy định này hàng năm tuy không đáng kể trong tổng số thu ngân sách nhà nước, nhưng lại có ý nghĩa rất lớn vì đại bộ phận người dân nông thôn, người lao động nghèo ở đô thị sẽ được miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và cơ quan thuế cũng giảm được chi phí về nhân lực quản lý để tập trung vào quảtn lý các nguồn thu khác có hiệu quả hơn.
  • Hai là: Nhằm mục đích chia sẻ khó khăn với những người nộp thuế có ý thức, thái độ tuân thủ pháp luật thuế nhưng hiện tại đang gặp khó khăn về tài chính, cần có thời gian để thu xếp nguồn tiền để nộp dần số thuế nợ, Luật có quy định: “Chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế đối với trường hợp người nộp thuế mà đã được cơ quan quản lý thuế cho phép nộp dần tiền nợ thuế (dãn nộp thuế) trong thời hạn không quá 12 tháng, kể từ ngày bắt đầu của thời hạn cưỡng chế thuế.” Việc nộp dần tiền nợ thuế sẽ được xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế gắn với điều kiện là họ phải có bảo lãnh của tổ chức tín dụng. Để bảo đảm công bằng với người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật và không nợ thuế, Luật vẫn có quy định tính lãi suất trả chậm theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đang được cơ quan thuế cho giãn thời hạn nộp.
  • Ba là: Quy định giảm mức tiền chậm nộp thuế 0,05%/ngày (lãi suất tính trên số tiền thuế chậm nộp) xuống mức thấp hơn là 0,03% để phù hợp với mặt bằng lãi suất ngân hàng đã giảm nhiều so với trước đây, bảo đảm tính khả thi của quy định xử phạt, đồng thời chia sẻ khó khăn với người nộp thuế. Theo đó, Luật quy định rằng: Nếu người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định và thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì ngoài việc phải nộp đủ tiền thuế, còn phải trả tiền chậm nộp theo mức bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp. Đối với các khoản nợ tiền thuế phát sinh trước ngày 01/07/2016 mà người nộp thuế chưa nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN), kể cả khoản tiền nợ thuế được truy thu qua kết quả thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền thì cũng được chuyển sang áp dụng mức tính tiền chậm nộp theo tỷ lệ quy định tại khoản này từ ngày 01/07/2016. Trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn NSNN nhưng chưa được thanh toán nên không nộp kịp thời các khoản thuế dẫn đến nợ thuế thì không phải nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế còn nợ. Tuy nhiên, số tiền chậm nộp thuế mà doanh nghiệp được miễn trừ chỉ giới hạn trong phạm vi không vượt quá số tiền NSNN chưa thanh toán và phát sinh trong thời gian NSNN chưa thanh toán.
(Nguồn: Gdt.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)

VII.    Cục thuế Hà Nội công khai đường dây nóng tiếp nhận phản ánh của Người nộp thuế 

Cục Thuế TP. Hà Nội vừa tiếp tục công khai Danh sách số điện thoại hỗ trợ + Danh sách số điện thoại và địa chỉ email đường dây nóng tiếp nhận phản ánh của người nộp thuế của Văn phòng cục và 30 đơn vị chi cục trên địa bàn thành phố. Cụ thể:
 
STT Đơn vị Số ĐT hỗ trợ Số ĐT tiếp nhận phản ánh Email
I Văn phòng Cục thuế TP Hà Nội
1 Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ NNT
(04) 3762 2243
(04) 3851 2436

(04) 3514 6119

 
 
2 Phòng Tổ chức cán bộ - 0967.569.569  
3 Phòng Kiểm tra nội bộ -
0964.569.569
(04) 3514 6452
duongdaynong.han@gdt.gov.vn
II Chi cục thuế
1 Chi cục thuế quận Ba Đình (04) 3733 2748 (04) 3747 3676 duongdaynongbdi.han@gdt.gov.vn
2 Chi cục thuế quận Hoàn Kiếm (04) 3932 9775 (04) 3926 4765 duongdaynonghki.han@gdt.gov.vn
3 Chi cục thuế quận Tây Hồ (04) 3829 4873 (04) 3716 0764 duongdaynongtho.han@gdt.gov.vn
4 Chi cục thuế quận Cầu Giấy (04) 3793 0676 (04) 3793 0236 duongdaynongcgi.han@gdt.gov.vn
5 Chi cục thuế quận Đống Đa (04) 3856 9557 (04) 3851 0264 duongdaynongdda.han@gdt.gov.vn
6 Chi cục thuế quận Thanh Xuân (04) 3557 2286 (04) 3557 2289 duongdaynongtxu.han@gdt.gov.vn
7 Chi cục thuế quận Hai Bà Trưng (04) 3974 3575 (04) 3978 4701 duongdaynonghbt.han@gdt.gov.vn
8 Chi cục thuế quận Hoàng Mai (04) 3633 2772 (04) 3634 3553 duongdaynonghma.han@gdt.gov.vn
9 Chi cục thuế quận Long Biên (04) 3875 2307 (04) 3875 1839 duongdaynonglbi.han@gdt.gov.vn
10 Chi cục thuế quận Nam Từ Liêm (04) 3837 2942 (04) 3763 0627 duongdaynongntl.han@gdt.gov.vn
11 Chi cục thuế quận Bắc Từ Liêm (04) 3224 2075 (04) 3224 2080 duongdaynongBTL.han@gdt.gov.vn
12 Chi cục thuế huyện Gia Lâm (04) 3676 3428 (04) 3676 3107 duongdaynonggla.han@gdt.gov.vn
13 Chi cục thuế huyện Đông Anh (04) 3883 9045 (04) 3883 1872 duongdaynongdan.han@gdt.gov.vn
14 Chi cục thuế huyện Sóc Sơn (04) 3595 5815 (04) 3595 2419 duongdaynongsso.han@gdt.gov.vn
15 Chi cục thuế quận Hà Đông (04) 3352 7508 (04) 3311 9076 duongdaynonghdo.han@gdt.gov.vn
16 Chi cục thuế thị xã Sơn Tây (04) 3383 3803 (04)3361 8149 duongdaynongsta.han@gdt.gov.vn
17 Chi cục thuế huyện Ba Vì (04) 3997 2309 (04) 3386 3576 duongdaynongbvi.han@gdt.gov.vn
18 Chi cục thuế huyện Phúc Thọ (04) 3364 0589 (04) 3364 2176 duongdaynongpth.han@gdt.gov.vn
19 Chi cục thuế huyện Thạch Thất (04) 3368 3774 (04) 3368 4035 duongdaynongtth.han@gdt.gov.vn
20 Chi cục thuế huyện Đan Phượng (04) 3388 5160 (04) 3388 5942 duongdaynongdanphuong.han@gdt.gov.vn
21 Chi cục thuế huyện Quốc Oai (04) 3394 3807 (04) 3384 3531 duongdaynongqoa.han@gdt.gov.vn
22 Chi cục thuế huyện Hoài Đức (04) 3366 4373 (04) 3366 3333 ktnbhdu.han@gdt.gov.vn
23 Chi cục thuế huyện Chương Mỹ (04) 3371 8416 (04) 3386 7842 duongdaynongcmy.han@gdt.gov.vn
24 Chi cục thuế huyện Thanh Oai (04) 3387 3206 (04) 3324 2009 duongdaynongtoa.han@gdt.gov.vn
25 Chi cục thuế huyện Ứng Hòa (04) 8588 1369 (04) 3398 1275 duongdaynonguho.han@gdt.gov.vn
26 Chi cục thuế huyện Mỹ Đức (04) 3374 5021 (04) 3384 7243 duongdaynongmdu.han@gdt.gov.vn
27 Chi cục thuế huyện Thường Tín (04) 3385 3370 (04) 3376 4935 duongdaynongtti.han@gdt.gov.vn
28 Chi cục thuế huyện Phú Xuyên (04) 3385 8100 (04) 3385 4327 duongdaynongpxu.han@gdt.gov.vn
29 Chi cục thuế huyện Mê Linh (04) 3811 0599 (04) 3818 3667 duongdaynongmli.han@gdt.gov.vn
30 Chi cục thuế huyện Thanh Trì (04) 3861 4075 (04) 3681 1998 duongdaynongttr.han@gdt.gov.vn
 
 
(Nguồn: Thoibaotaichinhvietnam.vn; Xem chi tiết tại đây)

B.   BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐIỆN TỬ

I.   Tăng cường triển khai giao dịch điện tử bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Thực hiện Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ về Chính phủ điện tử, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1499/QĐ-BHXH về Kế hoạch đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chính phủ điện tử trong lĩnh vực BHXH, BHYT giai đoạn 2016 - 2020. Sau 6 tháng triển khai Chính phủ điện tử đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, góp phần tích cực cải cách hành chính lĩnh vực quản lý BHXH, BHYT.

Tích cực cải cách hành chính

Triển khai Quyết định số 08/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH, BHXH Việt Nam xác định triển khai giao dịch điện tử là một trong những nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính (TTHC) trọng tâm của ngành nhằm tạo thuận lợi cho các đơn vị sử dụng lao động trong thực hiện TTHC, rút ngắn được thời gian lập và xử lý hồ sơ, giảm chi phí, thời gian cho đơn vị sử dụng lao động, tăng tính minh bạch trong hoạt động của cơ quan BHXH.
Trên cơ sở tổng rà soát các TTHC của ngành, BHXH Việt Nam ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung thay thế các quy định về hồ sơ, quy trình, thủ tục đăng ký tham gia, giải quyết và chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN; lập Cổng Thông tin BHXH Việt Nam và kết nối với các cổng giao dịch điện tử khác. Hiện nay, ngành BHXH đang tích cực hoàn thiện, nâng cấp các phần mềm nghiệp vụ để liên thông với phần mềm giao dịch điện tử; xây dựng phần mềm quản lý dữ liệu về người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng để quản lý trên toàn quốc.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tin học hóa trong lĩnh vực BHYT, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán BHYT, BHXH Việt Nam đã tích cực phối hợp với Bộ Y tế xây dựng bộ chỉ tiêu danh mục đầu ra dữ liệu khám chữa bệnh BHYT; bộ mã danh mục dùng chung đối với thuốc, vật tư y tế và dịch vụ kỹ thuật, phối hợp với doanh nghiệp công nghệ thông tin thí điểm thành công hệ thống kết nối, liên thông dữ liệu giữa các cơ sở khám, chữa bệnh ở 4 tuyến tại các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh và TP Hải Phòng. Trên cơ sở kết quả thí điểm tại các địa phương này, BHXH Việt Nam đã lập cổng tiếp nhận dữ liệu Hệ thống Thông tin giám định BHYT phiên bản 1.0. Đây là một phần mềm trong hệ thống phần mềm ứng dụng của BHXH Việt Nam, bảo đảm việc thực hiện liên thông dữ liệu từ cơ sở khám, chữa bệnh và cơ quan BHXH cấp tỉnh đến BHXH Việt Nam được thông suốt trên phạm vi toàn quốc.

Đẩy mạnh giao dịch điện tử

Với mục tiêu đẩy nhanh giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH, BHYT, coi đó vừa là nhiệm vụ vừa là giải pháp thực hiện cải cách hành chính, BHXH Việt Nam xác định những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là: Hoàn thiện hệ thống giám định, thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT trên toàn quốc. Bên cạnh đó, nhằm mở rộng thử nghiệm Hệ thống Thông tin giám định BHYT đối với các địa phương và các bệnh viện trên phạm vi cả nước từ tháng 6.2016, BHXH Việt Nam đang tích cực hoàn thành các hạng mục các dự án triển khai kết nối với các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT; cấp tài khoản và hỗ trợ các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT kết nối, sử dụng Hệ thống Thông tin giám định BHYT; chỉ đạo BHXH các tỉnh cập nhật thống nhất danh mục dùng chung áp dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh; cung cấp và hỗ trợ sử dụng phần mềm thống kê chi phí khám, chữa bệnh của BHXH Việt Nam cho các đơn vị chưa có phần mềm; xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông giữa cơ sở khám, chữa bệnh và cơ quan BHXH để giải quyết chế độ cho người dân theo hướng các cơ sở khám, chữa bệnh chia sẻ dữ liệu cho cơ quan BHXH; xây dựng đề án ứng dụng trực tuyến mức độ 3 trong việc giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất và chi trả các chế độ BHXH; hoàn thiện dữ liệu và cấp BHYT theo số định danh cá nhân.
Thực hiện liên thông dữ liệu trong quản lý, chỉ đạo công tác tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa trực tuyến; xây dựng đề án phối hợp chia sẻ thông tin giữa các cơ quan: Kế hoạch và Đầu tư, Thuế và BHXH để thực hiện liên quản lý doanh nghiệp, thuế và BHXH, BHYT; xây dựng quy trình chuyển dữ liệu điện tử, kết nối với ngân hàng, kho bạc, cơ quan thuế, cơ quan thi hành án, bưu điện để thuận tiện trong việc thu nộp, chi trả BHXH, BHYT.
(Nguồn: Daibieunhandan.vn; Xem chi tiết tại đây)
Bkav