Bảo hiểm Xã hội Điện tử tháng 08/2018

Bấm vào để phóng to

I.  Hướng dẫn mới nhất về tiền lương đóng BHXH bắt buộc

Ngày 30/07/2018, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã ra Công văn 3016/LĐTBXH-BHXH hướng dẫn về tiền lương đóng BHXH bắt buộc từ ngày 01/01/2018.

Cụ thể, tiền lương đóng BHXH bắt buộc là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động. Trong đó:

  • Phụ cấp lương là các khoản phụ cấp để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính đến chưa đầy đủ như: Phụ cấp chức vụ, chức danh; Phụ cấp trách nhiệm; Phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm… các phụ cấp có tính chất tương tự.
  • Các khoản bổ sung khác là các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương; Các khoản bổ sung không xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng, trả thường xuyên hoặc không thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương gắn với quá trình làm việc, kết quả thực hiện công việc của người lao động.
  • Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác như tiền thưởng sáng kiến, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật; trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động…

(Nguồn: Luatvietnam.vn; Xem chi tiết tại đây)

II.  BHXH Hà Nội đề nghị phối hợp kiểm tra lại các thông tin khi nhận sổ BHXH

Bảo hiểm xã hội TP Hà Nội vừa ban hành Công văn số 1918/BHXH-CST về việc phối hợp kiểm tra lại các thông tin trong sổ BHXH khi nhận sổ BHXH.

Công văn nêu rõ, thực hiện Văn bản số 4027/BHXH-ST ngày 14/11/2016 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về rà soát, trả sổ BHXH cho người lao động. Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội đã phối hợp cùng các đơn vị sử dụng lao động triển khai, tổ chức thực hiện rà soát, bàn giao sổ BHXH cho người lao động.

Để đảm bảo tiến độ trả sổ BHXH cho người lao động, Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội đã tập trung toàn bộ nguồn nhân lực để nhập bổ sung dữ liệu quá trình tham gia của người lao động vào phần mềm quản lý, đồng thời phối hợp với đơn vị sử dụng lao động để rà soát, sau đó cấp lại sổ BHXH (đối với các trường hợp sổ cấp theo mẫu cũ và các trường hợp có điều chỉnh thông tin cá nhân) trước khi chuyển các đơn vị sử dụng lao động phối hợp với cơ quan Bưu điện trả sổ BHXH cho người lao động.

BHXH TP Hà Nội đề nghị các đơn vị sử dụng lao động yêu cầu người lao động sau khi nhận sổ BHXH, tiếp tục kiểm tra lại các thông tin trên sổ (bao gồm họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, quá trình đóng BHXH, chức danh công việc, tiền lương..., nếu phát hiện còn sai sót, chậm nhất trong 1 tháng kể từ ngày người lao động nhận được sổ BHXH phải gửi lại đơn vị để chuyển đến Bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã hoặc thành phố nơi cấp sổ để điều chỉnh. Cơ quan Bảo hiểm xã hội sẽ kiểm tra, nếu có sai sót thực hiện điều chỉnh lại thông tin.

Trường hợp người lao động đã nhận sổ sau 1 tháng mà không có ý kiến, khi giải quyết các chế độ BHXH, Bảo hiểm xã hội Hà Nội căn cứ dữ liệu và hồ sơ thực tế quá trình tham gia BHXH để giải quyết chế độ BHXH đối với người lao động theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Thủ trưởng các đơn vị sử dụng lao động quan tâm phối hợp và chỉ đạo thực hiện để việc trả sổ BHXH cho người lao động đảm bảo chất lượng và hiệu quả.

(Nguồn: Bhxhhn.com.vn; Xem chi tiết tại đây)

III.  Không phải cứ đóng bảo hiểm là được hưởng chế độ thai sản

Với bất cứ lao động nữ nào, chế độ thai sản cũng là mối quan tâm hàng đầu khi sinh con. Thế nhưng, để được hưởng chế độ thai sản, lao động nữ phải đáp ứng một số điều kiện nhất định.

Điều kiện hưởng chế độ thai sản 2018

Căn cứ Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và hướng dẫn của Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, người lao động chỉ được chế độ thai sản nếu đáp ứng các điều kiện sau:

  • Thuộc 1 trong 6 trường hợp:
    • Lao động nữ mang thai;
    • Lao động nữ sinh con;
    • Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;
    • Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;
    • Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;
    • Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.
  • Lao động nữ sinh con; Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) từ đủ 06 tháng trở lên trong 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi.
  • Trường hợp lao động nữ sinh con đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của bệnh viện thì phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên, trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

Lưu ý: Người lao động đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên mà chấm dứt hợp đồng lao động hoặc thôi việc trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định.

Mức hưởng chế độ thai sản 2018

Năm 2018, mức hưởng chế độ thai sản có một số thay đổi mới như sau:

  • Tăng tiền trợ cấp thai sản: Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định: “Lao động nữ khi sinh con được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con. Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở.”

Từ ngày 01/07/2018, lương cơ sở tăng lên 1,39 triệu đồng/tháng (theo Nghị định 72/2018/NĐ-CP), trợ cấp thai sản tăng lên 2,78 triệu đồng/tháng.

  • Tăng tiền dưỡng sức sau sinh: Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định: “Lao động nữ sau khi sinh con mà trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 5 ngày đến 10 ngày. Trong đó, tối đa 10 ngày nếu lao động nữ sinh đôi trở lên; 07 ngày nếu sinh mổ; 05 ngày với các trường hợp khác. Khi nghỉ dưỡng sức sau sinh, lao động nữ được hưởng trợ cấp mỗi ngày bằng 30% mức lương cơ sở.”

Như vậy, từ ngày 01/07/2018, tiền dưỡng sức sau sinh của lao động nữ là 417.000 đồng/ngày, tăng 27.000 đồng/ngày.

Ngoài một số thay đổi nêu trên, chế độ thai sản 2018 vẫn giữ nguyên quy định như trước đây. 

(Nguồn: Luatvietnam.vn; Xem chi tiết tại đây)

IV.  Những khoản thu nhập tính đóng BHXH bắt buộc

Không ít người lao động hiện vẫn còn băn khoăn khi không biết những khoản thu nhập nào sẽ không bị tính đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

  • Căn cứ vào Khoản 3 Điều 30 của Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về “Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc”:

Điều 30. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

3. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo khoản 11 Điều 4 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.”.

  • Cũng tại, căn cứ vào điểm 2.3 Khoản 2 của Điều 6 Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/04/2017 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam thì tiền lương tháng tính đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác.

Điều 6. Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc theo quy định tại Điều 89 Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể như sau:

  1. Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật Lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong HĐLĐ theo Khoản 11 Điều 4 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP.

Như vậy, các khoản thu nhập sau đây sẽ không bị tính đóng BHXH bắt buộc:

  • Tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật Lao động 2012

Điều 103. Tiền thưởng

1. Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

2. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

3. Tiền thưởng sáng kiến; Tiền ăn giữa ca; Khoản hỗ trợ xăng xe; Khoản hỗ trợ điện thoại; Khoản hỗ trợ đi lại; Khoản hỗ trợ tiền nhà ở; Khoản hỗ trợ tiền giữ trẻ; Khoản hỗ trợ nuôi con nhỏ; Hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết; Hỗ trợ khi người lao động có người thân kết hôn; Hỗ trợ khi sinh nhật của người lao động; Trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động; Trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị bệnh nghề nghiệp; Các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo Khoản 11 Điều 4 của Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015. “11. Các nội dung khác liên quan đến thực hiện nội dung mà hai bên thỏa thuận”.

(Nguồn: Baohiemxahoi.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)

V.  Điều chỉnh mức trợ cấp đối với cán bộ xã

Bộ Nội vụ vừa ban hành Thông tư 08/2018/TT-BNV điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng với cán bộ xã già yếu nghỉ việc, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/08.

Theo đó, từ ngày 01/07/2018, điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng tăng thêm 6,92% mức trợ cấp hàng tháng trên mức trợ cấp được hưởng tại thời điểm tháng 6/2018.

Đối tượng áp dụng là cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130-CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng.

Cụ thể, mức trợ cấp hàng tháng từ ngày 01/07/2018 của các đối tượng được tính như sau = Mức trợ cấp được hưởng tại thời điểm tháng 6/2018 x 1,0692.

Như vậy, mức trợ cấp hàng tháng đối với cá đối tượng như sau:

  • Cán bộ nguyên là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã là 1.974.000 đồng/tháng;
  • Phó bí thư, Phó Chủ tịch, Thường trực Đảng ủy, Ủy viên thư ký UBND, Thư ký Hội đồng nhân dân xã, Xã đội trưởng, Trưởng công an xã: 1.910.000 đồng/tháng;
  • Các chức danh còn lại là 1.768.000 đồng/tháng./.

(Nguồn: Baohiemxahoi.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)

VI.  Hướng dẫn giải quyết vướng mắc về thu, cấp thẻ BHYT và cấp mã số BHXH cho người tham gia BHYT

Ngày 23/7, BHXH Việt Nam ban hành Công văn số 2745/BHXH-BT hướng dẫn BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết vướng mắc về thu, cấp thẻ BHYT và hoàn thiện cấp mã số BHXH cho người tham gia BHYT.

Theo đó, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ thu, cấp thẻ BHYT và hoàn thiện cấp mã số BHXH cho người tham gia BHYT, một số đơn vị chưa thực hiện đúng quy định, còn tình trạng phát sinh giảm không kịp thời dẫn đến trùng quá trình tham gia BHYT, ảnh hưởng đến nguồn kinh phí đóng BHYT và quyền lợi của người tham gia BHYT.

Bên cạnh đó, việc hoàn thiện cấp mã số BHXH theo Công văn số 3799/BHXH-BT ngày 28/8/2017 của BHXH Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu quản lý, nhưng vẫn còn một số trường hợp trùng 4 tiêu chí, hộ gia đình có một nhân khẩu hoặc nhiều nhân khẩu... đã ảnh hưởng đến việc quản lý thu, cấp thẻ BHYT.

Để khắc phục vấn đề trên, BHXH Việt Nam hướng dẫn thực hiện giải quyết như sau:

  • Đối với đối tượng đã cấp thẻ BHYT theo mã số BHXH khi có phát sinh tăng đối tượng do chuyển địa bàn khác đến hoặc do chuyển đối tượng tham gia BHYT: BHXH cấp tỉnh/huyện nơi thực hiện phát sinh tăng đối tượng tham gia BHYT cần xác định đối tượng tham gia BHYT theo thứ tự ưu tiên và quyền lợi hưởng theo quy định để thực hiện thu, cấp thẻ BHYT. Trường hợp đối tượng tham gia BHYT vẫn còn giá trị sử dụng, thì thực hiện giảm giá trị sử dụng thẻ BHYT đã cấp (thẻ BHYT cũ) và thẻ BHYT mới.
  • Đối với BHXH cấp tỉnh/huyện nơi quản lý thu và cấp thẻ BHYT cũ: Hằng tháng, cán bộ chuyên quản tổng hợp danh sách báo giảm người tham gia có BHYT giảm giá trị sử dụng (Mẫu số 03-GT) theo từng đơn vị quản lý đối tượng trên hệ thống phần mềm TST. Đồng thời, chuyển Mẫu số 03-GT tới các đơn vị SDLĐ, Trung tâm DVVL, UBND xã, cơ quan quản lý đối tượng, đại lý thu, trường học để thực hiện chức năng của từng đơn vị.
  • Đối với các trường hợp trùng 4 tiêu chí, hộ gia đình có một nhân khẩu hoặc nhiều nhân khẩu: Cần rà soát, chuẩn hóa dữ liệu theo hướng dẫn tại Công văn số 3356/BHXH-BT ngày 31/8/2016 về việc chuẩn hóa dữ liệu gia đình tham gia BHYT, Công văn số 3799/BHXH-BT ngày 28/8/2017 về việc hoàn thiện cấp mã số BHXH cho người tham gia BHYT hoàn thành trước ngày 30/9/2018.

(Nguồn: Baohiemxahoi.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)

VII.  Tiến hành triển khai sử dụng thẻ BHYT điện tử

Thủ tướng Chính phủ vừa giao BHXH Việt Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cấp, quản lý và sử dụng thẻ BHYT điện tử.

Việc triển khai sử dụng thẻ BHYT điện tử được xem là một thay đổi rất mới trong việc giúp cho chế độ BHYT có thể phát huy tốt nhất vai trò của mình đối với việc khám chữa bệnh của mọi người. Nó có thể giúp cho người tham gia bảo hiểm có thể được khám chữa bệnh mọi lúc, mọi nơi chỉ với các thông tin cơ bản như mã số BHYT, họ tên, ngày tháng năm sinh hay số CMND là cơ sở khám chữa bệnh có thể tìm ra thông tin để có thể ghi nhận việc khám chữa bệnh là hợp lệ.

Trước đó, BHXH Việt Nam đã nhận được chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 4173/VPCP/KSTT ngày 8/5/2018 của Văn phòng Chính phủ về cấp, quản lý và sử dụng thẻ BHYT điện tử. Trong đó, Thủ tướng Chính phủ giao BHXH Việt Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cấp, quản lý và sử dụng thẻ BHYT điện tử với một số yêu cầu gồm: Thẻ BHYT phải có gắn chíp với giải pháp công nghệ do Việt Nam làm chủ; bảo đảm kết nối, liên thông, tích hợp an toàn và chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành, địa phương liên quan.

Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Trần Đình Liệu cho biết, thẻ BHXH, BHYT điện tử phải được tích hợp an toàn và kết nối dữ liệu của ngành BHXH với các cơ sở dữ liệu của đơn vị, cơ sở KCB BHYT và với các cơ quan quản lý Nhà nước, địa phương có liên quan; thẻ sử dụng thông tin sinh trắc học của người tham gia BHXH, BHYT, BHTN để xác thực nhân thân. Theo đó, thông tin sinh trắc học của người tham gia phải được thu thập, quản lý và cập nhật trên thẻ điện tử theo kế hoạch, lộ trình cụ thể, đồng bộ với quá trình triển khai…

Hiện BHXH Việt Nam đã giao Vụ Pháp chế, Ban Sổ - Thẻ, Trung tâm CNTT và các đơn vị có liên quan phối hợp khẩn trương xây dựng theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; gắn với việc xây dựng mục tiêu, lộ trình thực hiện cụ thể. Trước khi triển khai đồng bộ trên toàn quốc, cần tổ chức khảo sát, và thực hiện thí điểm tại một số tỉnh, thành phố lớn, lên phương án trang bị cơ sở hạ tầng hoàn thiện trước khi triển khai đồng bộ nhằm đảm bảo hiệu quả.

(Nguồn: Daidoanket.vn; Xem chi tiết tại đây)

VIII.  Chủ động khắc phục vướng mắc trong thực hiện cải cách hành chính

Đây là nội dung quan trọng trong Công văn số 2289/BHXH-PC về việc tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC) của ngành mà BHXH Việt Nam vừa ban hành. Điều này càng khẳng định, ngành bảo hiểm xã hội đặc biệt quan tâm đến cải cách hành chính, hướng đến lợi ích thiết thực với người dân, doanh nghiệp.

Giảm thủ tục, giảm phiền hà

Thời gian giao dịch dự kiến còn 45 giờ/năm, đã giảm phiền hà đáng kể cho người dân chính là những ưu điểm nổi bật mà cải cách thủ tục hành chính của ngành bảo hiểm đạt được trong thời gian qua. Trong năm 2016, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đã cắt giảm số thủ tục hành chính từ 115 xuống còn 32; giảm 38% thành phần hồ sơ; giảm 42% tiêu thức trên tờ khai, biểu mẫu; giảm 54% quy trình, thao tác thực hiện. Giao dịch điện tử lĩnh vực thu và cấp sổ BHXH, thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) được tăng cường ứng dụng. Hiện 90% số doanh nghiệp đã thực hiện giao dịch điện tử. Thời gian giao dịch thực hiện thủ tục hành chính về BHXH, BHYT của các doanh nghiệp với cơ quan BHXH dự kiến giảm còn 45 giờ/năm.

Thông qua phần mềm giao dịch điện tử, doanh nghiệp có thể kê khai và nộp hồ sơ BHXH cho cơ quan BHXH thông qua Cổng thông tin điện tử hoặc các tổ chức cung cấp dịch vụ. Ngành thường xuyên sửa đổi, hoàn thiện quy trình, hồ sơ trong tất cả các lĩnh vực, từ thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT đến giải quyết, chi trả chế độ theo hướng ngày càng giảm bớt các thủ tục, đơn giản các biểu mẫu, tiêu chí...

Bên cạnh đó, hệ thống kết nối, liên thông giữa cơ quan BHXH và các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT trên toàn quốc để cung cấp, tra cứu dữ liệu thẻ BHYT và giám định chi phí khám, chữa bệnh đã có những hiệu quả nhất định. Đến nay, BHXH Việt Nam đã kết nối thành công với 99,5% cơ sở khám, chữa bệnh tại 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Hệ thống cấp số định danh và quản lý BHYT hộ gia đình để cập nhật, cấp số định danh duy nhất cho mỗi cá nhân, tạo thuận lợi cho người dân giao dịch với bất kỳ cơ quan BHXH nào trên toàn quốc.

Đồng thời, để giảm phiền hà cho người lao động, cơ quan chức năng cũng đã bỏ quy định phải nộp lại sổ đối với trường hợp cấp lại sổ BHXH do hỏng. Quy định thu phí cấp lại, đổi thẻ cũng đã được bãi bỏ. Đặc biệt, BHXH Việt Nam đã bỏ quy định về thời hạn sử dụng thẻ BHYT; bổ sung quy định thời điểm thẻ có giá trị sử dụng để người lao động có thể sử dụng thẻ dài hạn.

Bên cạnh đó, BHXH Việt Nam đã đơn giản hóa nhiều thủ tục, giảm thời gian chờ đợi liên quan tới cấp sổ BHXH, thẻ BHYT. Thời gian cấp mới sổ BHXH, thẻ BHYT, xác nhận sổ BHXH được điều chỉnh từ 7 ngày xuống 5 ngày. Thời gian cấp lại sổ BHXH do thay đổi các nội dung trên sổ (họ, tên, ngày, tháng, năm sinh...) không quá 10 ngày, theo quy định trước đây là 15 ngày. Việc cấp lại thẻ BHYT, cấp đổi giảm còn 3 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ và nhận ngay trong ngày với trường hợp không thay đổi thông tin. Ngoài ra, để tháo gỡ những vướng mắc, BHXH Việt Nam đã chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố không yêu cầu người tham gia BHYT theo hộ gia đình phải trình cơ quan quản lý các loại giấy tờ để chứng minh về đặc điểm nhân thân đối tượng, về sự tham gia BHYT của thành viên trong hộ gia đình.

Tiếp tục không ngừng cải cách thủ tục hành chính

Thời gian qua BHXH Việt Nam đã đơn giản hóa và giảm đáng kể số lượng các thủ tục, tạo thuận lợi cho các đối tượng tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Công tác cải cách TTHC của ngành đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, nhận được sự ghi nhận của Chính phủ, các tổ chức quốc tế, sự đồng thuận của xã hội.

Không dừng lại ở đó, ngành Bảo hiểm xã hội vẫn đang tiếp tục hoạt động cải cách này, tăng cường các biện pháp tiếp cận với người lao động. Công văn số 2289/BHXH-PC về việc tăng cường công tác cải cách TTHC của ngành đã khẳng định điều này. Để tạo thuận lợi hơn nữa cho các cá nhân, tổ chức khi tham gia BHXH, đồng thời thực hiện hiệu quả công tác quản lý của ngành, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam yêu cầu Tổ công tác cải cách TTHC của ngành, các đơn vị trực thuộc, BHXH các địa phương cần chủ động khắc phục những vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ; tiếp tục nghiên cứu cắt giảm, đơn giản các TTHC; đẩy mạnh ứng dụng CNTT, giao dịch điện tử; tích cực huy động dịch vụ công và nâng cao chất lượng thực thi đạo đức công vụ.

Theo đó, về giao dịch điện tử, các đơn vị trực thuộc, BHXH các địa phương thực hiện đầy đủ các quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BH thất nghiệp theo quy định tại Nghị định 166/2016/NĐ-CP ngày 24/12/2016 của Chính phủ, Quyết định 838/QĐ-BHXH ngày 29/5/2017 của BHXH Việt Nam và các văn bản liên quan khác. Giao Trung tâm CNTT chủ trì, hỗ trợ BHXH các địa phương hoàn thiện các hệ thống trang thiết bị, phần mềm, liên thông CSDL, ưu tiên cao nhất các hoạt động nghiệp vụ, giải quyết yêu cầu của tổ chức, cá nhân qua giao dịch điện tử.

Vụ Pháp chế chủ trì, cùng các đơn vị nghiệp vụ, BHXH địa phương phối hợp rà soát, tiếp tục cắt giảm, đơn giản triệt để hơn nữa các TTHC của ngành. Đồng thời, nghiên cứu điều chỉnh kết cấu TTHC, cách thức mô tả trình tự thực hiện của từng TTHC trong quyết định công bố theo hướng đơn giản, dễ hiểu. BHXH các địa phương thống nhất niêm yết, công khai trong toàn ngành, để người dân tiếp cận, giảm chi phí, thời gian tìm hiểu thủ tục và chuẩn bị hồ sơ.

Về công tác tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích, BHXH Việt Nam giao Trường Đào tạo nghiệp vụ BHXH chủ trì, Vụ Pháp chế phối hợp, thống nhất với Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam sớm tổ chức bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghiệp vụ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC cho nhân viên Bưu điện, đáp ứng yêu cầu “Một cửa” của cơ quan BHXH, thực hiện hiệu quả mục tiêu hỗ trợ đơn vị sử dụng lao động (SDLĐ), giảm tải công việc cho cơ quan BHXH.

Vụ Pháp chế cũng chịu trách nhiệm chủ trì, tăng cường giám sát, kiểm tra công tác tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết TTHC của BHXH các địa phương thông qua phần mềm theo dõi trên hệ thống “Một cửa điện tử” tập trung; khẩn trương nghiên cứu, đánh giá kết quả công tác tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định tại Quyết định 45/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 và Hợp đồng nguyên tắc số 166/HĐBC/BĐVN-BHXH ngày 20/12/2016 để làm cơ sở chỉ đạo, điều hành.

Ngoài ra, tăng cường kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất công tác cải cách TTHC tại BHXH địa phương, khảo sát đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan BHXH tại các đơn vị SDLĐ. Tham mưu cho Tổng Giám đốc chỉ đạo, điều hành hiệu quả công tác cải cách TTHC, kịp thời xử lý vi phạm và khen thưởng thành tích tập thể, cá nhân trong công tác cải cách TTHC.

(Nguồn: Congluan.vn; Xem chi tiết tại đây)

IX.  Đề xuất giảm dần chi phí quản lý BHXH, BHYT giai đoạn 2019 - 2021

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến về dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chi phí quản lý bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm y tế (BHYT) giai đoạn 2019 - 2021.

Theo đó, khoản 1 Điều 2 dự thảo Quyết định này quy định về mức chi phí quản lý BHXH, BHTN, BHYT giai đoạn 2019 - 2021, cụ thể:

  • Mức chi phí quản lý BHXH năm 2019 bằng 2,15%, năm 2020 bằng 2,0% và năm 2021 bằng 1,85% dự toán thu, chi BHXH (trừ số chi đóng BHYT cho người hưởng BHXH) được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH;
  • Mức chi phí quản lý BHTN năm 2019 bằng 2,15%, năm 2020 bằng 2,0% và năm 2021 bằng 1,85% dự toán thu, chi BHTN (trừ số chi đóng BHYT cho người hưởng BHTN) được trích từ quỹ BHTN;
  • Mức chi phí quản lý BHYT năm 2019 bằng 4,6%, năm 2020 bằng 4,2% và năm 2021 bằng 3,8% dự toán thu tiền đóng BHYT được trích từ số tiền thu BHYT;

Trong trường hợp thực hiện thu, chi BHXH, BHTN, thu BHYT trong năm không đạt dự toán, thì mức chi phí quản lý theo tỷ lệ quy định tại các điểm a, b và c khoản này tính trên số thực thu, thực chi.

Đối với dự toán chi phí quản lý được cấp có thẩm quyền giao trong năm, các đơn vị sử dụng và quyết toán theo chế độ quy định. Phần chênh lệch lớn hơn giữa dự toán chi phí quản lý được giao và mức chi phí quản lý theo tỷ lệ quy định tính trên số thực thu, thực chi được trừ vào dự toán chi phí quản lý năm sau.

Đối với trường hợp thực hiện thu, chi BHXH, BHTN, thu BHYT trong năm đạt hoặc lớn hơn dự toán, thì mức chi phí quản lý theo tỷ lệ quy định tại các điểm a, b và c khoản này tính trên dự toán thu, chi. 

Về mức chi tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, khoản 1 Điều 3 dự thảo Quyết định này quy định: Mức chi tiền lương bằng 1,8 lần so với chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức do Nhà nước quy định, bao gồm tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp, trừ phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ, được áp dụng đối với các đối tượng:

  • Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc trong các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam;
  • Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong tổ chức BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Bộ Công an (chỉ áp dụng đối với tổ chức BHXH là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán riêng theo quy định của pháp luật về kế toán);
  • Người lao động thực hiện chính sách BHTN trong các trung tâm dịch vụ việc làm địa phương, tổ chức BHTN trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Phần chênh lệch lớn hơn giữa mức chi tiền lương thực tế theo quy định tại khoản 1 Điều này và chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức do Nhà nước quy định không dùng để tính đóng, hưởng BHXH, BHYT, BHTN và kinh phí công đoàn.

(Nguồn: Baophapluat.vn; Xem chi tiết tại đây)

Bkav